Sunday, May 30, 2010

Mẹo Phòng Bệnh Viêm Họng Mùa Hè

http://www.biethet.com/images/1_10_2009_content/14_20091216110930782_091216gt14.jpg
Viêm họng là một bệnh rất phổ biến ở nước ta do môi trường ô nhiễm, do uống nước lạnh kết hợp với thức ăn ướp muối khiến cổ họng bị ngứa rồi viêm. Ngoài ra, viêm amidan cũng là nguyên nhân gây ngứa họng và ho.

Khi bị viêm, bắt buộc chúng ta phải dùng kháng sinh nhưng kháng sinh cũng gây hại cho sức khoẻ và nếu dùng lâu, dùng nhiều cũng gây lờn thuốc. Vậy nên cách tốt nhất là bảo vệ họng không bị viêm:

1. Đừng bao giờ coi thường bàn chải đánh răng vì nó là một trong những nguyên nhân gây viêm họng và miệng do vi khuẩn bám trên bàn chải.

Hãy pha một cốc nước muối nóng hàng sáng để tẩy uế bàn chải trước khi đánh răng.

2. Cây đinh hương là chất khử trùng tự nhiên rất hiệu quả để điều trị viêm họng và miệng. Nhai một ít đinh hương mỗi sáng (sau khi ngắt bỏ hoa) sẽ bảo vệ họng tránh khỏi những vi khuẩn, vi trùng có hại xâm nhập.

3. Tuy nhiên, nếu bạn không thích mùi vị của cây đinh hương, bạn có thể thay thế nó bằng cách nhai 5 đến 6 lá húng quế. Trồng một chậu húng quế nhỏ ở trước nhà vừa làm cảnh và cũng vừa là phương thuốc giúp bạn tránh bị viêm họng mỗi ngày.

4. Một cách đơn giản khác là ép một ít nước gừng tươi (khoảng 3 - 4 ml) vào buổi sáng. Trộn với 5ml mật ong và uống nó sau khi đánh răng. Gừng và mật ong sẽ bảo vệ họng bạn suốt cả ngày.

5. Một loại thảo dược khác cũng có tác dụng tương tự là nghệ. Nghệ có thành phần chống dị ứng nên rất hiệu quả với chứng viêm dị ứng họng. Để sử dụng nghệ hiệu quả, bạn nên pha một ít muối với 5g bột nghệ trong nửa cốc nước nóng và uống mỗi tối trước khi đi ngủ.

6. Các cách trên cần được kết hợp với thói quen súc họng bằng nước muối ấm mỗi tối trước khi đi ngủ, sau khi đánh răng. Thói quen tốt này sẽ giúp tẩy trùng họng và miệng. Nó có tác dụng bảo vệ họng khỏi viêm nhiễm trong thời gian dài.

7. Nếu bạn còn lo lắng gì về việc đau họng và cuống phổi do thời tiết và môi trường làm việc ô nhiễm thì có thể nhai một miếng nhỏ đường thô (đường thốt nốt) trong ngày. Đường thốt nốt sẽ làm sạch và giữ cho họng, cuống phổi không bị khô rát.

Saturday, May 29, 2010

BẠN BIẾT GÌ VỀ CÚM A( H1N1) ?

http://www.yhocvietnam.net/images/article/36.jpg

Thế giới vẫn chưa quên những tác hại và ảnh hưởng của dịch cúm A (H5N1) tới sức khỏe và kinh tế toàn cầu trong những năm gần đây, thậm chí vẫn còn nguyên tinh thần “cảnh giác” với căn bệnh này lại tiếp tục chịu sự đe dọa của một tác nhân tương tự đó là nguy cơ đại dịch cúm A (H1N1).Loại tác nhân gây bệnh này có tính chất như thế nào? Biết được bản chất của tác nhân gây bệnh, hiểu biết rõ về đường lây truyền của chúng chính là cách tốt nhất để phòng bệnh.

Một vài nét về các loài virut cúm

Orthomyxoviridae là họ virut có cấu trúc di truyền gồm một sợi ARN bao gồm 5 loài: virut cúm A (Influenzavirus A), cúm B (Influenzavirus B), cúm C (Influenzavirus C), virus Thogoto (Thogotovirus) và virus Isa (Isavirus). Ba loài virut đầu tiên có vai trò gây bệnh trên động vật có xương sống, bao gồm chim (cúm gia cầm), người và các loài động vật có vú khác. Trong khi loài virus Isa có vai trò gây bệnh cho cá hồi thì loài virus Thogoto có vai trò gây bệnh cho cả động vật có xương sống và động vật không xương sống (ví dụ: muỗi, rận biển). Ba loài virut cúm được nhận diện nhờ sự khác nhau trong cấu trúc kháng nguyên bề mặt, phức hợp protein cũng như vai trò gây bệnh khác nhau trên động vật có xương sống. Virut cúm A đã được biết là căn nguyên gây nên tất cả các đại dịch cúm. Virut cúm A gây bệnh trên người, một số động vật có vú và một số loài chim. Virut cúm B gây bệnh chủ yếu trên người và một số ít loài hải cẩu.Virus cúm C gây bệnh chủ yếu trên người và một số loài lợn.

Trong ba loài virut cúm ở trên, mỗi một loài chỉ có duy nhất một chủng hay còn gọi là týp lần lượt là chủng virut cúm A, chủng virut cúm B và chủng virut cúm C. Tuy nhiên trong khi virut cúm A và cúm C có khả năng gây bệnh cho nhiều loài khác nhau, thì virut cúm B hầu như chỉ gây bệnh cho người (một số nhà chuyên môn còn gọi cúm B là “cúm người” do đặc tính này).

Tóm tắt phân loại loài, chủng, týp huyết thanh và vai trò gây bệnh của các virut thuộc họ Orthomyxoviridae :

Loài

Chủng

Týp huyết thanh hoặc phân týp

Vật chủ

Cúm A

(Influenzavirus A)

Influenza A virus

H1N1, H1N2, H2N2, H3N1, H3N2, H3N8, H5N1, H5N2, H5N3, H5N8, H5N9, H7N1, H9N2, H10N7

Người, lợn, chim, ngựa

Cúm B

(Influenzavirus B)

Influenza B virus


Người, hải cẩu

Cúm C

(Influenzavirus C

Influenza C virus


Người, lợn

Virus Isa

Virus gây thiếu máu cá hồi


Cá hồi Đại Tây Dương

Virus Thogoto

Thogotovirus


Muỗi, mò, động vật có vú (gồm cả người)


Dhori virus

Batken virus, Dhori virus

Muỗi, mò, động vật có vú (gồm cả người)

Hình thể và cấu trúc của virut cúm

Các loài virut cúm khác nhau về cấu trúc kháng nguyên và vai trò gây bệnh nhưng hình thể và cấu trúc thì lại hoàn toàn tương tự nhau.

Dưới kính hiển vi điện tử, hầu hết các loại virut cúm có dạng hình cầu đường kính từ 50-100nm. Một số ít có dạng hình sợi đường kính 20nm và dài từ 200-300nm. Bên trong virut có cấu trúc phức tạp gồm protein capsid và các sợi ARN cấu trúc với nhau thành các nucleocapsid có cấu trúc đối xứng xoắn. Vỏ của virut được cấu tạo bởi 2 lớp lipid, trên bề mặt 2 lớp vỏ lipid này là khoảng 500 chồi gai khác nhau nhú lên từ bề mặt của virut, mỗi chồi gai có độ dài từ 10-14nm. Các chồi gai này được cấu tạo bởi các glycoprotein. Có hai loại glycoprotein là Hemagglutinin (gọi tắt là H) và Neuraminidase (gọi tắt là N) tạo nên các chồi gai. Các chồi gai Hemagglutinin thường nhiều hơn và mọc xen kẽ với các chồi Neuraminidase với tỷ lệ là 4-5:1. Hemagglutinin có chức năng giúp virut bám dính vào tế bào cảm thụ và làm xâm nhập vật liệu di truyền của virut vào bên trong tế bào cảm thụ. Trong khi đó, Neuraminidase có chức năng thúc đẩy sự lắp ráp giải phóng virut từ các tế bào cảm thụ. Chính các glycoprotein này (H và N) quyết định tính kháng nguyên đặc hiệu của từng týp virut khác nhau. Chúng cũng là vị trí để các thuốc kháng virut gắn kết và phát huy tác dụng diệt virut. Đồng thời có vai trò quan trọng trong việc quyết định tính kháng nguyên trong sản xuất vaccin.

Đường lây truyền bệnh cúm

Các loài động vật có vú đã nhiễm bệnh phát tán virut ra ngoài dưới dạng các hạt nhỏ lơ lửng trong không khí (aerosol) có chứa virut thông qua việc ho, hắt hơi và các loài chim phát tán virut ra ngoài môi trường thông qua việc thải phân. Nước bọt, dịch tiết mũi họng đường hô hấp, phân và máu là các yếu tố chứa mầm bệnh và làm lây truyền bệnh cúm. Người và các vật chủ khác nhiễm bệnh khi tiếp xúc với các dịch cơ thể nói trên hoặc tiếp xúc với các bề mặt đã bị nhiễm bởi chúng. Virut cúm có thể tồn tại 1 tuần trong điều kiện nhiệt độ cơ thể người, 30 ngày tại điều kiện 0oC (32oF) và tồn tại vô thời hạn trong điều kiện nhiệt độ cực thấp (nhiệt độ các hồ ở vùng Đông - Bắc Siberia). Tuy nhiên, chúng dễ dàng bị bất hoạt bởi các hóa chất khử khuẩn thông thường và xà phòng. Chính vì vậy, vệ sinh bàn tay, vệ sinh các bề mặt và không khí đúng cách là một trong những cách tốt nhất để đề phòng bệnh cúm.

Chu kỳ phát triển của virut trong tế bào cảm thụ

Tương tự như các loại virut khác, virut cúm xâm nhập, nhân lên và ly giải khỏi tế bào cảm thụ thông qua 3 giai đoạn chính:

- Đầu tiên thông qua vai trò của glycoprotein hemagglutinin, virut cúm bám dính vào các receptor bên ngoài và sau đó hòa màng vào bên trong của tế bào cảm thụ. Các tế bào biểu mô của đường hô hấp và phổi là các tế bào chịu tác động tấn công đầu tiên của virut.

- Trong tế bào cảm thụ, virut cúm dựa vào sự tổng hợp protein, AND, ARN của tế bào cảm thụ để tổng hợp và nhân lên các protein, ARN của mình. Đây là giai đoạn virut dễ bị biến thể nhất. Thông thường độc tính của virut sau biến thể cao hơn nhiều lần so với nguyên thể.

- Sau cùng, thông qua vai trò của glycoprotein neuraminidase các virut cúm mới được hình thành sẽ phóng thích ra khỏi tế bào đã nhiễm để xâm nhập vào các tế bào khác của cơ thể.

Như vậy, virut cúm chỉ có thể nhân lên ở tế bào sống (tế bào đang hoạt động và tổng hợp protein, AND, ARN).

Virut cúm A (H1N1) và một số vụ dịch cúm A (H1N1) đã xảy ra

Virut cúm A (H1N1) là một phân týp của virut cúm A là loại virut thường gây bệnh cúm ở người. Một vài chủng virut cúm H1N1 đã gây thành dịch ở người, đặc biệt phải kể đến đại dịch cúm năm 1918 đã cướp đi sinh mạng của gần 100 triệu người trên toàn thế giới. Một vài chủng H1N1 ít độc tính vẫn tồn tại, chúng gây nên những đợt ốm giống như cúm. Một số chủng H1N1 gây bệnh và gây thành dịch ở lợn và một số loài chim.

Đại dịch cúm Tây Ban Nha

Vụ đại dịch xảy ra năm 1918, căn nguyên gây bệnh là virut cúm A (H1N1) (được xác minh sau đó bằng việc dựng lại cấu trúc của chủng virut gây bệnh). Bệnh có nguồn gốc từ một số loài chim và gia cầm sau đó lây truyền sang người. Trong vòng một năm từ 1918 đến 1919 đã có gần 100 triệu người chết trên toàn thế giới liên quan đến đại dịch này. Đây được coi là vụ đại dịch có số người chết nhiều nhất trong lịch sử loài người. Bệnh nhân tử vong rất nhanh chỉ trong vài ngày sau khi nhiễm bệnh và hơn một nửa số nạn nhân là người trẻ tuổi. Để giải thích cho hiện tượng này, các nhà khoa học cho rằng đó là do hậu quả của “cơn bão cytokine” gây nên. Virut cúm sau khi xâm nhập tế bào phổi đã gây kích thích quá mạnh (overstimulation) hệ thống miễn dịch và kết quả là hàng loạt cytokine (chất trung gian gây hoạt hóa miễn dịch) được giải phóng. Điều này đã dẫn đến sự xâm nhập ồ ạt tế bào bạch cầu đến tổ chức phổi, làm phá hủy tổ chức phổi nhanh chóng. Ngược lại với những vụ dịch khác mà nạn nhân thường là người già và trẻ em, thì nạn nhân của đại dịch cúm Tây Ban Nha chủ yếu lại là những người trẻ tuổi. Điều này được lý giải rằng những người trẻ có hệ thống miễn dịch khỏe nên đáp ứng với các kích thích càng mạnh và hậu quả như đã nói ở trên. Vụ dịch cúm gia cầm gần đây do một phân týp cúm A khác gây nên cũng được cho là có tính chất tương tự. Gọi là cúm Tây Ban Nha vì thời gian đó chỉ báo chí Tây Ban Nha đưa tin về vụ dịch. Vì vụ dịch đã cướp đi hàng nghìn sinh mạng của binh lính đang tham chiến tại Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất nên báo chí các nước khác đã giấu thông tin này.

Dịch cúm ở Nga

Vụ dịch xảy ra vào thời gian từ năm 1977 đến 1978, căn nguyên là chủng virut cúm A (H1N1) có tên là Influenza A/USSR/90/77 (H1N1) gây nên. Vụ dịch gây ảnh hưởng chủ yếu trên các đối tượng là trẻ em và thanh niên dưới 23 tuổi. Một số người đã gọi đây là đại dịch nhưng vì đối tượng chịu ảnh hưởng chủ yếu là trẻ em nên tên gọi đại dịch không được chấp nhận.

Bắt đầu từ tháng 4/2009 trên một số bệnh nhân đầu tiên ở các nước Bắc Mỹ, dịch cúm A (H1N1) lần này tiếp tục gây quan ngại cho nhân loại toàn cầu. Hiểu biết thấu đáo về căn nguyên và tính chất gây bệnh để có cách phòng bệnh hiệu quả nhất.

Một số tin liên quan đến cúm A (H1N1):

Theo AFP, các nhà khoa học Canada đã lần đầu tiên giải mã đầy đủ chuỗi gien của virus cúm A/H1N1. Đây là sự kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng để hiểu rõ nguyên nhân bùng phát dịch bệnh này và bào chế vaccine.

Bộ Nông nghiệp Trung Quốc ngày 3/5 cho biết nước này đã phát triển một loại thuốc thử mới để phát hiện virus cúm A (H1N1) ở lợn và phương pháp mới này có thể cho kết quả xét nghiệm trong vòng 5 giờ đồng hồ.

Phương pháp này cũng có thể cho những kết quả chẩn đoán đối với loại virus cúm A (H1N1) ở người.

Bộ Nông nghiệp Trung Quốc cũng đã hối thúc các cơ sở địa phương tăng cường dự trữ và quản lý những trang thiết bị khẩn cấp dành cho việc ngăn chặn và kiểm soát dịch cúm A (H1N1).

Cùng ngày, các chuyên gia hàng đầu về an toàn thực phẩm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tái khẳng định việc sử dụng các sản phẩm thịt lợn được chế biến đúng cách và nấu chín là an toàn, kể cả thịt lợn muối bởi virus A (H1N1) không thể sống lâu ngoài không khí.

Ngày 8/5, Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng đã có Chỉ thị số 03/CT-BGTVT về việc tăng cường công tác phòng chống dịch cúm A (H1N1). Trước yêu cầu khẩn cấp ngăn chặn dịch cúm A (H1N1) xâm nhập và lây lan, bảo vệ sức khỏe cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành GTVT và nhân dân địa phương.

NDĐT - Nhận được thông tin tại Trung Quốc đã phát hiện bệnh nhân nhiễm virus A H1N1, ngày 11-5, Ban phòng chống dịch cúm A/H1N1 tỉnh Lào Cai đã tổ chức họp khẩn cấp, tăng cường các biện pháp xiết chặt cửa khẩu, giám sát virus cúm A đối với 100% khách nhập cảnh từ Trung Quốc vào Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai và cửa khẩu quốc gia Mường Khương và Bát Xát.

ND - Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết, đến ngày 11-5, trên thế giới đã có 7.379 trường hợp được xác định hoặc nghi nhiễm virus cúm A (H1N1) ở 31 nước và vùng lãnh thổ. Nước mới có người nhiễm virus cúm này là Trung Quốc, một thanh niên 30 tuổi vừa từ Mỹ trở về nước. Số người chết do nhiễm virus này là 53, đều ở châu Mỹ, nhiều nhất vẫn là tại Mexico với 48 người, Mỹ có ba người, Canada và Costa Rica mỗi nước một người.

TTO - Tính đến tối 11-5, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố virus cúm A/H1N1 đã làm 61 người thiệt mạng và có thêm một số nước có người nhiễm bệnh được xác định.

Với 56 ca tử vong ( 12-5 ), chiếm tỉ lệ 2,7% các ca nhiễm virus cúm A/H1N1, Mexico đang là nước có nhiều người chết nhất thế giới. Tiếp theo là Mỹ với ba nạn nhân, Canada có một người và nạn nhân còn lại ở Costa Rica . Theo BBC

Hôm nay 12/5, các hãng tin địa phương đã xác nhận trường hợp người nhiễm virus cúm A/H1N1 đầu tiên ở Thái Lan và Cuba . Như vậy cho đến nay, đã có 32 quốc gia trên thế giới có người bị nhiễm cúm A/H1N1.Thái Lan trỏ thành quốc gia Đông Nam Á đầu tiên bị ảnh hưởng của dịch bệnh này-(Dân trí)

(VietNamNet) - Một bệnh nhân nam ở Đà Nẵng bị sốt cao, đau họng… sau khi trở về từ Hồng Kông, Ma Cao nên đang được cách ly theo dõi vì nghi nhiễm cúm A/H1N1.

Ngày 12-5, Cục Y tế Dự phòng và Môi trường (Bộ Y tế ta) cho biết: Để phòng, chống dịch cúm A (H1N1) xâm nhập vào Việt Nam, Bộ Y tế thực hiện giám sát chặt chẽ, xử lý kịp thời các trường hợp nghi ngờ và chuẩn bị sẵn sàng kế hoạch đáp ứng với dịch cúm A (H1N1) trong trường hợp dịch xâm nhập vào Việt Nam.

Tính đến ngày 17/5/2009 có 39 nước chính thức thông báo 8480 trường hợp nhiễm cúm A(H1N1).

Mexico báo cáo 2895 trường hợp, bao gồm 66 trường hợp tử vong. Mỹ báo cáo 4714 trường hợp, gồm 4 trường hợp tử vong. Canada báo cáo 496 trường hợp, gồm 1 trường hợp tử vong. Costa Rica báo cáo 9 trường hợp, gồm 1 trường hợp tử vong.

Những nước đã có trường hợp xác nhận nhiễm bệnh ở người nhưng chưa có tử vong bao gồm Argentina (1), Úc (1), Áo (1), Bỉ (4), Brazil (8), Trung Quốc (5), Colombia (11), Cuba (3), Đan Mạch (1), Ecuador (1), El Salvador (4), Phần Lan (2), Pháp (14), Đức (14), Guatemala (3), Ấn Độ (1), Ireland (1), Israel (7), Ý (9), Nhật Bản (7), Malaysia (2), Hà Lan (3), New Zealand (9), Na-uy (2), Panama (54), Peru (1), Ba Lan (1), Bồ Đào Nha (1), Hàn Quốc (3), Tây Ban Nha (103), Thụy Điển (3), Thụy Sĩ (1), Thái Lan (2), Thổ Nhĩ Kỳ (1) và Anh (82).

WHO không khuyến cáo hạn chế đi lại do dịch cúm A(H1N1).

Những người bị ốm nên hoãn kế hoạch đi du lịch và những người có triệu chứng sau khi đi nước ngoài nên đi khám. Những khuyến nghị này là các biện pháp cẩn trọng có thể hạn chế sự lây lan của nhiều bệnh dễ lây, bao gồm cả cúm. ( Theo WHO ).

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI CHẤM DỨT THAI KỲ BẰNG THUỐC

http://www.meovatgiadinh.com/wp-content/uploads/2009/10/khamthai4002.jpg

Lưu ý khi phá thai bằng thuốc

Phá thai bằng thuốc chỉ được áp dụng với thai dưới 50 ngày và cho những thai phụ vì điều kiện đặc biệt không thể làm bằng ngoại khoa. Theo quy định của Bộ y tế, phương pháp này chỉ được thực hiện tại bệnh viện tỉnh và trung ương, không được làm ở phòng mạch tư.

Nạo hút thai (phá thai ngoại khoa) thường có những tai biến như chảy máu, sót rau, thủng tử cung, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và tương lai sinh sản. Ở Việt Nam , 5% trong số tử vong bà mẹ liên quan đến nạo hút thai (chủ yếu do nhiễm trùng, chảy máu). Một số nghiên cứu cho thấy nạo hút thai còn liên quan đến các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục.

Tâm lý của chị em là muốn có một cách phá thai kín đáo, ít tai biến hay ảnh hưởng đến sức khỏe. Phá thai bằng thuốc đáp ứng được yêu cầu này cho dù nó không hẳn là một phương pháp hoàn hảo.

Trên thế giới hiện có 4 nhóm thuốc phá thai, Việt Nam dùng nhóm mifepristone và misoprostol.

Hoóc môn progesteron do hoàng thể tiết ra trong chu kỳ kinh nguyệt có tác dụng làm dày niêm mạc tử cung để trứng làm tổ và bám chắc vào đó. Nhóm thuốc mifepristone có tác dụng đối kháng với pro-gesteron nên cản trở quá trình này. Nếu dùng sớm khi chưa thụ thai thì nó ngăn cản quá trình thụ thai (được coi là thuốc tránh thai khẩn cấp). Nếu dùng muộn khi đã có thai trong vòng 49 ngày, nó làm bong thai ra khỏi niêm mạc tử cung, được coi là thuốc phá thai. Khi dùng mifepristone quá muộn, thai sẽ không bong ra được.

Còn nhóm thuốc misoprostol làm tăng cường co bóp cơ tử cung để tống thai ra ngoài sau khi mifepristone đã làm bong thai ra khỏi niêm mạc tử cung. Để phá thai, 2 nhóm thuốc trên nhất thiết phải kết hợp với nhau.

Phác đồ phá thai bằng thuốc gồm 3 bước:

- Làm bong thai: Bệnh nhân uống mifepristone 200 mg ngay tại phòng khám để làm tróc túi thai ra khỏi niêm mạc tử cung rồi về nhà tự theo dõi theo hướng dẫn của thày thuốc.

- Tống thai ra ngoài: Sau 48 giờ, bệnh nhân trở lại bệnh viện uống tiếp misoprostol 400 mg (để đẩy thai ra) và lưu lại phòng khám trong 3 giờ để theo dõi mạch, huyết áp (cứ nửa giờ một lần). Nơi theo dõi này phải có đủ các trang bị cấp cứu về tim mạch, đồng thời phải có điều kiện để vận chuyển bệnh nhân lên tuyến cao hơn.

- Kiểm tra hiệu quả: Sau 14 ngày, bệnh nhân đến khám lại. Nếu siêu âm vẫn thấy thai phát triển và tim thai vẫn đập thì bắt buộc phải phá bằng phương pháp khác; không được giữ thai.

Những lưu ý về phá thai nội khoa

Không được áp dụng phá thai bằng thuốc cho các trường hợp thai ngoài tử cung, đang mang vòng, thiếu máu nặng, bị bệnh gan và thận, dùng corticoid kéo dài.

Khi đã dùng phương pháp này thì phải quyết tâm đến cùng chứ không được bỏ dở. Thai phụ phải trình bày ý định phá thai bằng nội khoa chậm nhất là vào ngày thứ 42 của thai kỳ để có đủ thời gian (7 ngày) cùng với thày thuốc suy nghĩ kỹ trước khi đi đến quyết định. Thống kê ở các nước cho thấy hiệu quả của phương pháp này là 87-97%, nghĩa là còn khoảng 6% thất bại. Do thuốc có những tác hại với thai nên khi thuốc không hiệu quả, nếu không tìm cách khác để tống thai ra ngoài thì đứa trẻ sẽ phát triển không bình thường (có thể bị khuyết tật, dị dạng). Vì vậy, tuy thày thuốc đã hướng dẫn cách theo dõi sẩy thai nhưng thai phụ không được chủ quan mà bắt buộc phải đến bệnh viện để kiểm tra lần cuối (bước 3).

Thai phụ phải nói rõ với thày thuốc tuổi thai, tiền sử bệnh tật. Đây là những thông tin quan trọng giúp bác sĩ có thêm sự chính xác trong chẩn đoán và quyết định áp dụng biện pháp phá thai nội khoa.

Thuốc phá thai có một số tác dụng phụ như ra máu, rỉ máu kéo dài, buồn nôn, nôn. Thực chất đây là những hiện tượng thường có trong sẩy thai tự nhiên, nhưng thai phụ cần được báo trước để khỏi hoang mang.

Khi áp dụng phương pháp phá thai nội khoa, người bệnh không được dùng các thuốc phenitoin, phenobarbital, carbamazepine (vì các thuốc này làm giảm hiệu lực mifepristone) và cũng không được dùng các kháng viêm không steroid (vì làm giảm hiệu lực của phương pháp).

preperitoneal inguinal prosthetic herniorrhaphy operation

Phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp đặt mảnh ghép nhân tạo qua ngã tiền phúc mạc

Điều Trị Bệnh Viêm Họng Hạt

http://img.tintuc.vietgiaitri.com/2010/1/5/VietGiaiTri.Com-545613a2.jpg
Biểu hiện của bệnh viêm họng hạt (viêm họng mãn tính) là cảm giác vướng víu, ngứa rát thường xuyên trong họng; ho và khạc đờm (quánh dính hoặc trắng nhầy) thường xuyên (nhất là sáng sớm, khi ngủ dậy)

Nhiều người bệnh do ngứa họng nên hay khậm khạc, đặng hắng. Khám tại chỗ thấy thành bên họng hơi đỏ, thành sau họng có những hạt trắng. Khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút (do nhiễm virus, làm việc căng thẳng, thay đổi thời tiết), bệnh có thể nặng lên thành một đợt viêm họng cấp (đau họng, sốt, ho khạc đờm đặc...)

Viêm họng hạt được coi là một bệnh khó điều trị dứt điểm. Các phương pháp điều trị tích cực như đốt lạnh (dùng nitơ lỏng), khí dung kháng sinh tại chỗ... không cho kết quả lâu dài. Để giảm bớt triệu chứng và đề phòng những đợt cấp hoặc biến chứng, nên áp dụng một phương pháp đơn giản mà hiệu quả: súc họng bằng nước muối loãng.

Nước muối để ngậm cần có độ mặn tương đương với nước canh và ấm hơn thân nhiệt vài độ (nhất là về mùa lạnh) để gây giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, khiến bạch cầu đến đây nhiều hơn. Nên pha sẵn nước muối mặn đựng vào chai, khi súc họng thì pha thêm nước nóng để có độ mặn và độ nóng cần thiết.

Trước tiên, cần súc sạch khoang miệng bằng nước muối đã pha trong khoảng 30 giây. Nếu cảm thấy miệng chưa thật sạch thì làm thêm một lần nữa rồi mới súc họng. Xúc họng khoảng 3-4 lần nữa với nước muối mới, cho đến khi họng không còn cảm giác vướng víu nữa.

Cứ 3 giờ súc họng một lần. Nếu họng đang viêm cấp, khoảng cách giữa hai lần súc họng có thể gần hơn. Điều quan trọng nhất là phải nhớ súc họng trước và sau khi ngủ. Với người hay đi tiểu đêm, cần phải súc họng cả trong những lần thức giấc này.

Kết quả của việc súc họng nước muối sẽ được thấy rõ sau khoảng vài ngày, đặc biệt đối với những bệnh nhân đang ở đợt cấp. Việc điều trị kháng sinh phối hợp là điều không cần thiết đối với viêm họng mãn. Nhưng nếu đang có đợt cấp thì kháng sinh sẽ là cần thiết

Friday, May 28, 2010

cardiac wound suture operation

Phẫu thuật vết thương tim


Thời Tiết Lạnh Coi Chừng Viêm Amiđan

http://www.thuocbietduoc.com.vn/images/news/2009/12/viem-mui_8-21209.jpg
Thời tiết lạnh là điều kiện để vi trùng, siêu vi trùng gây viêm amiđan hoạt động mạnh. Tại phòng khám chuyên khoa Tai - Mũi - Họng Bệnh viện Chợ Rẫy, tỷ lệ người bị viêm amiđan chiếm khoảng 30% tổng số bệnh nhân đến khám (tăng từ 3 đến 5 lần so với trước đây)

Đáng lưu ý là trong thời gian này, số lượng bệnh nhân bị áp xe amiđan gây tổn thương vùng họng, thanh quản, khí quản nhiều hơn và nặng hơn.

Đau họng, sốt nhẹ, nhức mỏi…có thể bị viêm amiđan

Viêm amiđan là bệnh lý thường gặp ở cả trẻ em lẫn người lớn. Viêm amiđan thường biểu hiện qua những triệu chứng như: người bệnh thấy đau họng - cảm giác nuốt vướng hoặc khó nuốt, sốt nhẹ, uể oải, nhức mỏi toàn thân, hơi thở hôi, nhức đầu, một số trường hợp có cảm giác căng ở vùng dưới cằm do viêm hạch dưới hàm và gây đau.

Khác với viêm họng, viêm amiđan khi khám thường thấy lớp lót trong họng đỏ, đặc biệt amiđan hai bên sưng lớn, đôi khi không lớn nhưng nuốt vướng vì có những chấm trắng giống chất bã đậu bám nhiều trên amiđan.

Ở trẻ em, viêm amiđan có thể gây viêm nội mạc cơ tim và cũng có thể gây viêm khớp với tỷ lệ thấp. Ở người lớn thường là áp xe amiđan, áp xe quanh amiđan thậm chí áp xe luồn xuống cổ, hiếm hơn mủ từ amiđan có thể chui xuống cổ vào trong ngực gây mủ vùng quanh tim rất nguy hiểm.

Theo các nhà khoa học, nguyên nhân gây bệnh là do vi trùng, siêu vi trùng hoặc cả hai. Trong đó, các loại vi trùng gây viêm amiđan thường là: liên cầu trùng nhóm A của Streptococci (GABHS) với tỷ lệ chiếm trên 40% các trường hợp ở người lớn và trên 75% ở trẻ em; ngoài ra còn có thêm các loại khác như Staphylococcus, Moraxella catarrhalis, Hemophilus Influenza, Mycoplasma pneumonia... cũng chiếm với tỷ lệ khoảng trên 10%.

Bên cạnh vi trùng, người ta cũng phát hiện thấy có khoảng 10 loại siêu vi trùng khác nhau gây viêm amiđan. Trong số đó có 3 loại siêu vi trùng thường hay gặp hơn cả (chiếm 10% - 20%) đó là Adenovirus, Rhinovirus và EpsteinBar virus.

Kiêng ăn chất cay, nóng, chua…sau khi phẫu thuật

Hiện nay, có hai phương pháp điều trị viêm amiđan là: điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật cắt amiđan. Trong đó, phương pháp chủ yếu vẫn là nội khoa với thuốc giảm đau và kháng sinh nếu do vi trùng, vì nó không xâm lấn, an toàn.

Thuốc thường dùng thuộc nhóm Beta-lactam như Penicilin V dưới dạng chích bắp, uống hoặc chích Amoxicilline + clavulanic acid (Augmentin, Amoxiklav…)... hoặc các thuốc thuộc thế hệ mới của nhóm Cephalosporin như Cefuroxime (Zinnat, Zinnacep...), Cefaclor (Ceclor), thuốc của nhóm Macrolides (Zitromax, Claritron...) cũng rất hiệu quả nếu dùng với liều 2 lần/ngày, dùng trong 10 –14 ngày/đợt ở người lớn, ở trẻ em cũng nên dùng uống với khoảng thời gian trên...

Ngoài ra cần nghỉ ngơi, dùng thuốc súc họng, súc nước muối ấm lạt.

Tuy nhiên, khi phương pháp dùng thuốc bị thất bại hoặc ở các trường hợp viêm cấp amiđan nhiều đợt trong năm (4 - 6 đợt, mỗi đợt kéo dài trên 2 tuần) hoặc đã ít nhất một lần amiđan bị mủ ở bên trong (áp xe), viêm amiđan sưng quá to gây khó thở hoặc khó nuốt ở trẻ em... người ta có thể dùng phương pháp phẫu thuật cắt amiđan theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng.

Hiện nay cắt amiđan thường được thực hiện với gây mê vì ưu thế hơn hẳn so với cắt gây tê, tỷ lệ cắt amiđan gây mê ở Singapore, Mỹ là 100%. Điều đáng lưu ý là phẫu thuật cắt amiđan là một sự xâm lấn, do đó người bệnh cần tuân thủ chế độ săn sóc đúng yêu cầu của bác sĩ để tránh gây tổn thương đến vết thương.

Thông thường sau cắt amiđan bệnh nhân ở lại BV 1 đêm và hôm sau xuất viện. Gặp trường hợp chảy máu sau cắt, phải ở lại thêm 1 - 2 ngày. Hiếm hơn, có một số người bị chảy máu sau mổ đến ngày thứ 7 – 10 do bị “bong mày” tại hố mổ amiđan, nếu xảy ra nên trở lại nơi cắt hoặc BV gần nhất để cầm máu.

Không cữ nói sau khi cắt, nói ngay sau cắt 1 ngày để tránh sẹo co kéo của các cơ vùng họng có thể gây ảnh hưởng đến giọng nói về sau. Nên kiêng cữ những món ăn theo đúng chỉ định của bác sĩ điều trị, cụ thể là những chất chua, cay, cứng và nóng từ 10 –14 ngày. Không nên đến những chỗ đông người như siêu thị, rạp hát, hội chợ.

Trong 1 - 2 tuần đầu sau mổ, rất dễ nhiễm trùng đường hô hấp từ người khác vì cơ thể người cắt amiđan vẫn “chưa mạnh”. Uống nhiều nước, ăn hoặc uống những loại nước giàu chất dinh dưỡng như nước trái cây, sữa, súp. Không hút thuốc lá hoặc uống rượu, bia vì rất dễ gây kích thích và ho, không tốt cho sự phục hồi “lớp lót” của họng sau mổ.

Thông thường nếu không bị chảy máu sau mổ thì sau một tuần bệnh nhân có thể trở lại với công việc, học hành bình thường của mình.
Girls Generation - Korean