Tuesday, September 30, 2008

Bệnh đau vú khi sinh nở hoặc khi có kinh

Nếu là phái nữ và đã từng sinh sản, hẳn bạn đã biết qua mùi vị của chứng đau này. Đa số phụ nữ thụ thai sắp đến ngày sinh nở đều thấy ngực của mình ngày càng lớn lên, căng cứng và đau đớn khó chịu đến mức phải tìm một tư thế nằm ngủ sao cho ngực đừng bị đau đớn. Cũng có thể bạn chưa từng sinh nở, nhưng mỗi tháng vào lúc sắp có kinh nguyệt, bạn cảm thấy ngực mình hơi sưng, khó chịu... Chiếc áo ngực thường ngày rất mịn màng, rất tiện nghi, nay lại gây đau đớn.

Chứng này gây nên do chu kỳ tự nhiên của các kích thích tố trong người bạn. Chúng kích thích tế bào của các tuyến cung cấp sữa trong cơ thể người mẹ sắp phải cho con bú, hoặc các tuyến chất lỏng khác trong vú, làm cho các tuyến này trương căng lên.

Sự trương căng này kích thích các hạch khác căng theo, nhằm cung cấp đủ máu nuôi nấng các tế bào... Nhìn chung, sự trương căng này giống như phản ứng dây chuyền, từ đó vú bị sưng to lên. Các tế bào thần kinh ở vú bị ảnh hưởng và tạo nên cảm giác đau đớn.

Hiện tượng này là tự nhiên và không thể tránh được mỗi khi có kinh nguyệt hoặc khi phải cho con bú. Nhưng với kiến thức y học ngày nay, bạn có thể giảm sự đau đớn bằng những phương pháp sau đây:

Thay đổi cách ăn uống
Hãy ăn ít những thực phẩm có chất mỡ, chất béo. Ăn nhiều rau cải, trái cây, gạo và đậu. Cách ăn uống này có tác dụng làm giảm kích thích tố oestrogen trong người bạn - một trong những nguyên nhân chính tạo nên sự đau đớn. Kinh nghiệm này được nữ bác sĩ Christian, Đại học y khoa Vermont, đúc kết.

Đừng để quá béo
Người phụ nữ càng béo bao nhiêu càng dễ bị đau đớn bấy nhiêu. Bác sĩ Gregory R. tại Pennsylvania (Mỹ) nhận định rằng, lượng mỡ thừa có tác dụng như các hạch chuyên sản xuất và dự trữ kích thích tố oestrogen. Càng nhiều mỡ càng có nhiều chất này, và đây là chất tạo nên sự đau nhức.

Dùng các sinh tố
Chất prolactin cũng là một trong những nguyên nhân tạo nên chứng đau vú. Muốn ngăn chặn sự phát triển của chất này, bạn nên uống các sinh tố B, C và canxi.

Tác dụng của cà phê
Người ta chưa chứng minh được ảnh hưởng của chất cafein trên chứng đau vú của phụ nữ. Tuy nhiên, nhiều bác sĩ dựa trên kinh nghiệm chẩn trị của họ đã khuyên bệnh nhân không nên uống cà phê hoặc những thứ chứa cafein như nước ngọt, kem, cacao, nhất là những thuốc làm giảm đau chứa cafein.

Giảm ăn muối
Chất muối có thể làm vú sưng đau hơn. Cố gắng giảm lượng muối lại trước khi có kinh nguyệt khoảng 1 tuần lễ.

Dùng phương pháp Lạnh & Nóng
Lạnh và nóng là một trong những phương pháp thần kỳ có thể làm dịu đi bất cứ chứng đau nhức nào. Hãy dùng nước đá bọc trong bao plastic rồi đắp lên chỗ đau qua một lớp khăn lông nhúng nước nóng vắt khô chừng 5 phút. Làm như vậy nhiều lần trong ngày để xoa dịu sự đau đớn và làm giảm hầu hết các bệnh sưng như đau lưng, bầm mắt, sưng vú.
--
Nguồn: vnexpress

Gầu trên tóc

Đôi lúc nơi bàn giấy, do gặp một vấn đề khó giải quyết, chúng ta luồn tay vào tóc theo thói quen.

Một số người thường vò tóc hay nắm tóc, hoặc gãi nhẹ vào đầu. Thế là các vẩy trắng nhẹ như bụi bay xuống từ tóc bạn. Những vẩy trắng này ngày càng rơi xuống nhiều hơn, đúng là bạn đã bị gầu rồi.

Đa số chúng ta đều bị gầu, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít mà thôi. Những người thợ cắt tóc nói rằng hầu hết thân chủ của họ đều than phiền về bệnh này, các bác sĩ cũng đồng ý như vậy.

Gầu tuy không có gì đáng quan tâm ngoài việc đôi lúc tạo cảm giác hơi ngứa ngáy, nhưng đừng xem thường hoặc quên lãng nó... Khi những vảy này bám quá nhiều trên da đầu, cảm giác ngứa ngáy sẽ nhiều hơn. Khi bạn gãi, da đầu có thể bị trầy, tạo cơ hội cho vi trùng xâm nhập. Ngoài ra, bệnh gầu ở mức độ nặng còn có những ảnh hưởng không tốt cho tóc của bạn nữa.

Thật ra, đây chỉ là một vấn đề không mấy phức tạp. Nếu để ý, bạn có thể kiểm soát nó tương đối dễ dàng.

Thường xuyên gội đầu
Bác sĩ Patricia nhận định rằng, ở một người gội đầu thường xuyên, bệnh gầu khó có thể phát triển trên da đầu họ. Thường gầu hay xuất hiện ở những người có da đầu nhờn; vì thế việc gội đầu thường xuyên với các loại dầu gội không chứa chất nhờn sẽ cho kết quả tốt.

Các loại dầu gội chứa chất nhờn lại rất tốt cho những người bị khô da đầu, thường được quảng cao dưới các hình thức như "moisturized" hoặc "for-dry-hair", "for-dry-scalp"... Bạn không nên chọn loại này; loại chích hợp với da nhờn là "for-oily-hair", hoặc "deep-clean-ning"...).

Dùng shampoo trị gầu
Có những dầu gội (shampoo) chuyên dùng để trị gầu, được bán trên thị trường với nhiều nhãn hiệu khác nhau, nhưng công thức không ngoài những thứ sau đây:
- Loại có chất selenium sulfide hoặc zinc pyrithione, có công dụng nhanh nhất. Chất này chận đứng được sự phát triển của gầu.
- Loại có chất salicylic acid hoặc sulfur, có công dụng làm các vảy gầu tróc ra và gội được dễ dàng hơn.
- Loại có chất tar, làm chậm tốc độ phát triển của những tế bào tạo ra gầu.
- Loại có chất sát trùng để làm da đầu không bị nhiễm trùng.

Khi mua shampoo, nên xem bảng thành phần cấu tạo trên nhãn hiệu để biết rõ đó là loại nào, công dụng ra sao.

Thông thường, các dầu trị gầu này chứa hóa chất và không ảnh hưởng bao nhiêu cho tóc. Không nên dùng mỗi ngày (trừ trường hợp không dùng chịu không nổi - lúc đó nên mua loại mà nhãn hiệu ghi rõ ràng là có thể dùng được mỗi ngày - for everyday use.) Nên xen kẽ dầu trị gầu này với các loại shampoo thường, mỗi ngày gội một thứ.

Khi dùng shampoo thường hay shampoo trị gầu, bạn không nên xả ngay mà hãy để trên tóc chừng 5 phút cho shampoo có đủ thời giờ phát huy tác dụng. Trong lúc chờ đợi, nên cào nhẹ và thoa nắn để vẩy gầu tróc ra. Đừng cào mạnh quá kẻo làm trầy da đầu.

Gội lại lần nữa với loại shampoo nhẹ
Đa số các loại shampoo trị gầu chứa hóa chất không tốt cho tóc nếu để bám lâu trên da đầu. Vì thế, sau khi xả hết lớp shampoo trị gầu này, nên gội lại một lần nữa bằng loại shampoo nhẹ và trong suốt (mild & clear) như Neutrogena chẳng hạn. Lần gội thứ hai này sẽ tẩy đi hết những hóa chất, dầu và gầu còn sót lại. Nếu bạn lười hoặc không có thì giờ thì gội một lần cũng không có hại lắm; nhưng nên để ý theo dõi, nếu có hiện tượng rụng tóc nhiều hơn, tóc bị chẻ hoặc trở nên mỏng hơn, nên bỏ hẳn loại shampoo trị gầu đang dùng và chuyển sang một loại khác.

Lâu lâu đổi sang một loại shampoo trị gầu khác cũng là một ý kiến tốt. Da đầu sau một hai tháng có thể quen với loại shampoo đang dùng và làm cho loại này giảm công hiệu.

--
Nguồn: vnexpress

Viêm cầu thận cấp

Bệnh nhiễm khuẩn dị ứng do liên cầu beta tan máu nhóm A. Trước khi xuất hiện các triệu chứng ở thận thường bệnh nhân mắc viêm họng đỏ hoặc loét ở da. Lứa tuổi hay mắc là từ 3- 10 tuổi

I) Nhắc lại về chẩn đoán:
1)_Triệu chứng lâm sàng:
Bệnh bắt đầu có triệu chứng: đau lưng, nôn, mệt mỏi
-Phù lúc đầu ở mí mắt sau ở chân. Mức độ phù có thể nhẹ hay nặng.
-Nước tiểu: số lượng ít, mầu thẫm, đục
-Huyết áp cao: thường gặp, cả về số tối thiểu và số tối đa nếu huyết áp tăng cao nhiều có thể khó thở nghe tim có tiếng ngựa phi, gan to, co giật. Một số trường hợp gây phù phổi cấp.

2) Xét nghiệm:
-Nước tiểu: có protein(thường ở mức vừa phải từ 1-1.5g/24 giờ có hồng bạch cầu và trụ hạt
-Máu: urê cao vừa từ 50-100%, creatin cao hơn bình thường.

II) Xử trí:
1) Nằm nghỉ ngơi trong vài tuần lễ:
Lúc đầu cho ăn lỏng(cháo , sữa, nước hoa quả về sau ăn cơm nhạt. Nếu huyết áp cao ăn nhạt hoàn toàn uống ít nước
Nếu bệnh nhi còn trong thời kì bú mẹ hay ăn sam vẫn cho bú ,không cho ăn bột với muối hay nước

2) Chống nhiễm liên cầu khuẩn:
–Penexilin: 1.000.000 đơn vị, uống hay tiêm trong 10 ngày.
-Cho xúc miệng bằng nước oxy già hay nước muối, bôi xanh methylen vào họng, amiđan.

3) Trường hợp có huyết áp cao:
-Hydranazin: 0.15mg/kg/liều ,tiêm bắp cứ 6 giờ tiêm một lần, không nên quá 2 lần.
-Lasix: 40 mg, 2 lần trong một ngày, nếu có biến chứng phù phổi cấp thì tiên lượng rất nặng

4) Kết quả điều trị viêm cầu thận cấp:
-Thường trong 2 đến 3 tuần lễ phù giảm số lượng nước tiểu tăng, huyết áp trở lạo bình thường
Sau 1 tháng :hết protein trong nước tiểu
-Trường hợp kết quả điều trị kém:
Huyết áo vẫn cao sau 1 tháng điều trị, protein niệu 1g/24 giờ sau 6 tháng điều trị, nước tiểu có hồng cầu trên 10.000/ phút, nên gửi đến các trung tâm có điều kiện làm sinh thiết thận
Sinh thiết thận thường cho thấy tổn thương tăng sinh nếu là tổn thương tăng sinh trong mao mạch thì tiên lượng tốt hơn tổn thương khác.

5) Điều trị theo y học dân tộc:
Bài thuốc:
-Kim ngân hoa 16 g
-Bồ công anh:16 gam
-Xuyên khung: 8 gam
-Mộc thông: 12 gam
-Mã đề: 16 gam
-Ngải cứu : 16 gam
-Cam thảo đất; 16 gam
-Sắc uống ngày một thang

Nguyễn Ngọc Sơn (tổng hợp)

Những đồ uống gây viêm loét dạ dày

Ăn uống giữ vai trò quan trọng trong điều trị viêm loét dạ dày.

Cà phê gây tăng tiết axit

Viêm loét dạ dày đã ổn định nhưng nếu ăn uống những thứ có tính chất kích thích dạ dày, tăng tiết dịch axit vẫn có thể bị đau lại, thậm chí tái loét.

Một số đồ uống có tác dụng vật lý hoặc hóa học làm tăng tiết dịch axit, gây tổn hại niêm mạc dạ dày, làm bệnh nặng thêm, vết loét khó lành, đó là:

- Nước uống có vị chua (như nước chanh, nước mơ, sấu...) khi uống vào làm cho lượng axit trong dạ dày tăng lên, vết thương cũ có thể tái loét gây đau.

- Rượu, bia do thành phần chủ yếu là cồn, có tác dụng kích thích dạ dày tiết axit, nếu uống nhiều trong thời gian dài sẽ làm cho nồng độ axit trong dạ dày luôn ở mức cao, gây loét dạ dày, tá tràng.

- Cà phê và đồ uống có chứa cà phê kích thích dạ dày tiết axit, làm tăng nồng độ axit trong dạ dày, kích thích vết loét mạnh dẫn tới đau dạ dày, vết loét sẽ bị xuất huyết, làm bệnh nặng hơn.
- Các loại nước uống có ga khi uống vào sẽ sinh lượng khí nhiều làm cho dạ dày phình to ra, áp lực tăng cao gây ra trướng bụng, có khi còn làm bục dạ dày ở chỗ yếu như vết loét cũ, rất nguy hiểm.

Bài thuốc chữa bướu cổ đơn thuần

Bướu cổ đơn thuần là một bệnh to tuyến giáp, bệnh thường do thiếu i-ốt, gặp ở nữ nhiều hơn nam giới.

3 mức độ

Bướu cổ đơn thuần thường gặp nhiều ở lứa tuổi trưởng thành, lúc có thai, cho con bú và thời kỳ tắt kinh.

Về nguyên nhân, theo y học cổ truyền, bướu cổ đơn thuần là bệnh lý chủ yếu là do khí trệ, đàm thấp - nghĩa là, người bệnh có tỳ khí kém, thêm ảnh hưởng của thức ăn, nước uống làm cho đàm thấp nội sinh, đàm thấp sinh nhiều càng tăng thêm khí trệ mà sinh bệnh. Hoặc do tức giận, thướng can, can khí không thông đạt, uất nên sinh đờm, đờm khí kết ở cổ mà sinh bệnh.

Triệu chứng biểu hiện trên lâm sàng chủ yếu là to tuyến giáp. Thể tán phát gặp nhiều ở nữ ở tuổi dậy thì, có thai, cho con bú, lúc tắt kinh thường to hơn, và qua những kỳ đó tuyến giáp nhỏ lại. Thường tuyến giáp to nhẹ tản mạn, chất mềm và trơn láng. Đến tuổi trung niên về sau, bướu có thể cứng và có nốt cục.


Hương phụ chế, xuyên bối mẫu - Ảnh: K.Vy

Bướu cổ địa phương (tập trung một vùng có nhiều người mắc) thì kích thước to nhỏ không chừng. Theo độ to nhỏ có thể chia làm các mức độ: độ 1 - phải nhìn kỹ, có khi phải nhìn nghiêng mới phát hiện hoặc phải sờ nắn mới biết; độ 2 - nhìn thẳng đã thấy bướu to; độ 3 - bướu rất to. Có những trường hợp bướu nằm ở vị trí đặc biệt, hoặc bị chèn ép khó chẩn đoán.

Trị theo thể

Thường y học cổ truyền chia bướu cổ đơn thuần làm hai thể và mỗi thể có cách trị khác nhau. Cụ thể: với thể khí trệ - triệu chứng biểu hiện thường là: bướu cổ to, và to hơn lúc người bệnh giận dữ, lúc có kinh hay có thai; bụng đầy, đau bên sườn, bụng dưới đau... Phép trị thể này là "lý khí, giải uất", dùng bài thuốc gồm các vị: trần bì, hải cáp phấn (mỗi loại 8g), hải đới, hải tảo (mỗi loại 30g), hải phiêu tiêu, côn bố (20 - 30g), mộc hương, hương phụ, uất kim (cùng 12g). Nếu khí uất hóa hỏa, người phiền táo, dễ tức giận, hồi hộp mất ngủ, ra nhiều mồ hôi, run tay thì gia thêm đơn bì, sơn chi, liên tử tâm, hoàng liên, hạ khô thảo, long đởm thảo (mỗi loại 8 - 12g).

Với thể đàm thấp - triệu chứng biểu hiện: bướu cổ to, thường mỏi chân tay, buồn ngủ, tức ngực, ăn uống kém, đầy bụng... thì phép trị sẽ là "hóa đàm, nhuyễn kiên, kiện tỳ, trừ thấp", dùng bài thuốc "Lục quân tử thang hợp hải tảo ngọc hồ thang gia giảm", gồm các vị: trần bì, bán hạ, xuyên khung (cùng 8g), đương quy, đảng sâm, bạch truật, bạch linh, xuyên bối mẫu (cùng 12g), hải tảo, hải đới, côn bố (cùng 30g) và 4g cam thảo. Nếu chân tay lạnh, người sợ lạnh thì thêm 3-4g nhục quế, 6 - 10g phụ tử chế. Nếu bướu to có cục thì gia thêm 12g đơn sâm, 10g hương phụ chế, 10g đào nhân, và 6g hồng hoa.

Cách sắc (nấu) những bài thuốc trên: nước thứ nhất cho các vị thuốc vào cùng 4 chén nước, nấu còn lại 1 chén. Nước hai cho vào 3 chén nước, nấu còn nửa chén. Hòa hai nước lại chia làm 3 lần dùng trong ngày.

Ngoài ra, còn có thể dùng một số bài thuốc đơn giản hơn như: hải tảo, côn bố (lượng bằng nhau) đem tán thành bột mịn, luyện mật làm viên hoàn, mỗi lần dùng 10-20g ngậm rồi nuốt sau bữa ăn tối. Có thể dùng lâu dài; hoặc hải tảo, côn bố (lượng bằng nhau), thanh bì (lượng bằng l/3 hai loại trên) đem sao vàng tán bột làm viên hoàn. Mỗi ngày dùng 10g sau bữa ăn tối; hoặc uất kim, đơn sâm, hải tảo (cùng 15g) đem sắc uống ngày 1 thang, có thể dùng liên tục trong 3-4 tuần (bài này dùng cho thể khí trệ).

Khi thấy bướu cứng, không đau, có nhân cần cảnh giác ung thư.

Khánh Vy
(theo lương y Như Tá)


DA (DERMATOLOGY)

Bệnh mụn mặt (Acne vulgaris) BS Nguyễn Văn Đức (California, USA)

Làn môi BS Nguyễn Văn Đức (California, USA)

Các bệnh tuyến giáp trạng

Thyroid diseases

Tuyến giáp trạng? Là cái gì nhỉ, nó ở đâu?

Tuyến giáp trạng quan trọng, điều khiển mọi hoạt động của cơ thể, nhưng lạ, không mấy người Việt ta biết đến nó. Lỗi tại các bác sĩ ít chịu nhắc tới tên nó. Nó có gây rắc rối gì, bác sĩ cứ gọi bừa các bệnh của nó là “bệnh bướu cổ”, chúng ta bùi tai gọi theo. Tên bệnh này thực không chính xác.

“Bướu” là tiếng dùng chỉ bất cứ cái chi to lên bất thường, nhưng trong một số bệnh của tuyến giáp trạng, nó chẳng to lên tí nào. Ta nên dùng những tên bệnh đúng để bác sĩ nào cũng hiểu ta muốn nói gì: bệnh cường tuyến giáp trạng (tuyến giáp trạng làm việc mạnh quá), bệnh suy tuyến giáp trạng (tuyến giáp trạng làm việc yếu quá), bướu lành tuyến giáp trạng, ung thư tuyến giáp trạng.

Giáp trạng (thyroid) là một tuyến bé hình móng ngựa, nằm ở trước cổ, ngay phía dưới cục xương lộ ra. Tuyến đóng vai trò trong mọi công việc biến dưỡng của cơ thể.

Tuyến giáp trạng tiết ra kích thích tố thyroxine, một chất đa năng, thường được gọi tắt T4. Nó điều khiển sự biến dưỡng của các cơ quan, thúc đẩy sự làm việc của mọi tế bào, kiểm soát sự sử dụng năng lượng, cung cấp các chất cần cho sự hoạt động của tế bào. Nó còn ảnh hưởng đến sự trưởng thành của tất cả các tế bào.

Trên óc ta, có một tuyến nhỏ khác quan trọng không kém, gọi là tuyến não thùy (pituitary gland). Tuyến não thùy tiết ra những chất đặc biệt, có tác dụng kích thích các tuyến dưới quyền: giáp trạng, thượng thận (adrenal glands), buồng trứng (ovaries), dịch hoàn (testicles), ...

Trong những chất đặc biệt này, có chất TSH (thyroid stimulating hormone), thúc đẩy tuyến giáp trạng làm việc để tiết đủ T4 cho cơ thể. Khi nào chàng giáp trạng lười, không tiết đủ T4, ông não thùy lại tiết thêm TSH, sai TSH đến nhắc nhở chàng: ”Tại Sao Hư, không làm việc?”. Khi chàng chăm chỉ tạo đủ lượng T4 cần thiết, ông não thùy hài lòng, tiết ít TSH đi.

Nhờ sự tận tụy của tuyến não thùy, dòm chừng và thúc đẩy tuyến giáp trạng, cơ thể ta luôn có đủ T4 để hoạt động, và khi thử máu, ta thấy cả T4 lẫn TSH đều bình thường, không tăng cao hay xuống thấp. Tuyến não thùy cũng điều động các tuyến quan trọng khác của cơ thể ta với cơ chế tương tự.

Càng có tuổi ta càng dễ bị bệnh tuyến giáp trạng. Các bệnh của tuyến giáp trạng rắc rối lắm, chỉ xin kể ở đây 4 loại bệnh tuyến giáp trạng chính.

Cường tuyến giáp trạng (hyperthyroidism)

Cường tuyến giáp trạng hay xảy ra. Tự nhiên tuyến tiết ra quá nhiều chất T4, làm bộ máy cơ thể ta chạy nhanh bất thường. Máy chạy nhanh, tỏa nhiều nhiệt, nên người lúc nào cũng nóng nảy, chịu nóng kém (heat intolerance), toát mồ hôi, tinh thần căng thẳng, mất ngủ, tính tình thất thường, lúc nóng lúc nguội, tay chân run rẩy. Ta ăn nhiều mà vẫn xuống cân, yếu mệt, tim đập nhanh nên hồi hộp, khó thở, và bị tiêu chảy, kinh ra ít. Có khi, mắt thành to, lộ.

Ở người lớn tuổi, triệu chứng thường mơ hồ: xuống cân, yếu mệt, buồn sầu, ... Có khi những triệu chứng về tim lại nhiều hơn: tim đập thất nhịp, suy tim, đau ngực, ... Bệnh tuyến giáp trạng xảy ra khá thường ở các vị lớn tuổi, triệu chứng hay mơ hồ, nên khi các cụ có bất cứ triệu chứng nào khác lạ, nếu cần thử máu để tìm hiểu vấn đề, thường bác sĩ cũng cho thử cả T4 và TSH.

Sự định bệnh dựa vào triệu chứng của người bệnh, sự thăm khám (khám thấy tuyến giáp trạng có thể phình to, có thể không), thử nghiệm đo các chất T4, TSH trong máu, và nếu cần, làm thyroid scan (phim chụp đặc biệt, cho thấy tuyến giáp trạng hấp thụ chất Iodine phóng xạ nhiều hơn bình thường).

Chữa trị bệnh cường tuyến giáp trạng có nhiều cách:

- Dùng thuốc uống: thuốc có tác dụng ngăn cản sự tiết chất T4 trong tuyến giáp trạng. Thời gian dùng thuốc kéo dài 1-2 năm. Sau thời gian chữa trị, 1/3 đến một nửa số người dùng thuốc sẽ khỏi bệnh, số còn lại tái phát, thường trong vòng 6 tháng sau khi ngưng thuốc.

- Uống chất phóng xạ Iodine: cách chữa này thường dùng cho các vị lớn tuổi, hoặc người trẻ đã chữa bằng thuốc uống nhưng nay tái phát. Chất phóng xạ Iodine ngăn sự tổng hợp chất T4 trong tuyến giáp trạng, đồng thời làm các tế bào của tuyến không thể sản sinh như bình thường. Cách chữa này giản dị, hiệu quả, song không dùng được cho người đang mang thai.

Thường sau khi trị với chất phóng xạ Iodine, tuyến giáp trạng sẽ trở thành suy, lúc đó lại cần chữa với chất T4 đến suốt đời.

- Giải phẫu cắt một phần tuyến giáp trạng (subtotal thyroidectomy): cách chữa này có thể gây những biến chứng do giải phẫu, nên chỉ dùng cho những người uống thuốc không hiệu quả, nhưng ngại ngùng, không muốn chữa bằng chất phóng xạ Iodine.

Chữa cách nào đi nữa, lành bệnh, người bệnh cũng vẫn cần được theo dõi đều đặn, đến suốt đời, vì bệnh có thể trở lại, hoặc sau một thời gian, tuyến giáp trạng lại thành suy.

Suy tuyến giáp trạng (hypothyroidism)

Tuyến giáp trạng suy, không tiết đủ T4. Mặc cho tuyến não thùy có tiết ra thật nhiều TSH, ngày đêm đến thét vào tai nó: “Tại Sao Hư, không làm việc?”, nó vẫn ỳ ra. Khi thử máu, ta sẽ thấy T4 thấp, và TSH tăng cao.

Thường suy giáp trạng là bệnh tự nhiên xảy ra. Cũng có khi, nó yếu đi là vì trước kia nó hoạt động mạnh quá, bác sĩ đốt nó bằng chất phóng xạ Iodine hay mổ cắt một phần thân thể nó. Nó không tiết đủ T4, khiến bộ máy cơ thể như chiếc xe lửa chạy than, mà than sắp cạn, xe ì ạch chạy chậm lại.

Triệu chứng bệnh suy giáp trạng thường mơ hồ, khởi đầu từ từ. Người bệnh mệt mỏi, kém chịu lạnh, hay buồn ngủ, hay quên, táo bón, chảy máu tử cung bất thường, nhức mỏi bắp thịt, khan tiếng. Da người bệnh khô, mặt và mắt trông hơi phù, bủng. Vài tháng sau, mọi hoạt động thể xác và tinh thần chậm hẳn lại, người bệnh ăn kém ngon, song lên cân. Tóc khô, rụng. Có trường hợp suy tuyến giáp trạng gây hôn mê thình lình.

Sự định bệnh dựa vào các triệu chứng của người bệnh, thăm khám (khi thăm khám, thấy tuyến giáp trạng có thể to lên, có thể không), và thử máu đo các chất T4, TSH.

Chữa trị suy giáp trạng không khó, bằng chất thyroxine nhân tạo, ngày một viên. Triệu chứng bệnh sẽ thuyên giảm trong vòng vài tuần, người bệnh dần dần trở lại bình thường như xưa. Sự chữa trị kéo dài suốt đời.

Bướu lành tuyến giáp trạng (thyroid goiter)

Đây là loại bệnh tuyến giáp trạng xảy ra nhiều nhất. Tuyến giáp trạng to lên hoặc nổi cục, song không cường mà cũng chẳng suy, vẫn làm việc bình thường. Thử máu, thấy lượng T4 và TSH bình thường, không cao, chẳng thấp.

Thỉnh thoảng, có tuyến giáp trạng cứ tiếp tục lớn thêm hoài, cho tới lúc nó lớn đủ để đè ép các cơ quan chung quanh khiến người bệnh cảm thấy khó chịu ở cổ, khó thở, khó nuốt, hay ho.

Tuyến giáp trạng có thể to lên theo 3 kiểu:

- Cả tuyến giáp trạng cùng lớn (diffuse goiter):

Tuyến to đều, không đau, sờ không thấy từng cục lổn nhổn. Nếu tuyến chỉ hơi to, và không gây triệu chứng bất thường, ta không cần chữa trị, nhưng theo dõi, xem tuyến có tiếp tục lớn thêm, hoặc bạn có thêm triệu chứng gì khác lạ.

Đối với những tuyến lớn nhiều mất đẹp, hoặc gây triệu chứng đè ép khiến bạn khó chịu, khó thở, ho, bác sĩ sẽ thử cho bạn uống thuốc thyroxine nhân tạo để làm tuyến nhỏ lại. Thường tuyến sẽ nhỏ lại trong vòng 3 đến 6 tháng nếu bạn dùng thuốc đều. Có khi ta phải dùng thuốc trong một thời gian dài hoặc suốt đời để tuyến không lớn lên lại.

Nếu dùng thuốc không đưa đến kết quả tốt, không làm cho tuyến nhỏ đi được, vẫn đè ép các cơ quan lân cận, ta cũng chẳng nên tiếc, giao tuyến cho bàn tay khéo léo của bác sĩ giải phẫu. Bác sĩ giải phẫu sẽ cắt bỏ phần lớn tuyến (subtotal thyroidectomy), chỉ chừa lại một phần nhỏ để bạn vẫn còn chất thyroxine do phần tuyến còn lại này tiết ra.

- Tuyến to kiểu lổn nhổn (multinodular goiter):

Khi thăm khám, thấy tuyến có nhiều khối lổn nhổn, to nhỏ khác nhau. Đa số người bệnh không có triệu chứng, và không cần chữa trị. Có người, về lâu về dài, bị cường tuyến giáp trạng, vì tuyến tự nhiên dở chứng, tiết ra nhiều T4. Thỉnh thoảng, vì to lớn kềnh càng, tuyến chèn ép các cơ quanh chung quanh gây khó thở hay khó nuốt.

Khác với trường hợp tuyến to đều kể trên (diffuse goiter), thường nhỏ lại trong vòng 3-6 tháng với sự chữa trị bằng thuốc thyroxine, các tuyến to kiểu lổn nhổn cứng đầu hơn. Thuốc thyroxine chỉ làm được 1/3 bọn chúng nhỏ lại. Số còn lại tuy không nhỏ bớt, nhưng ít nhất với sự dùng thuốc, chúng không lớn hơn nữa.

- Tuyến to chỉ một chỗ (thyroid nodule):

Cả tuyến giáp trạng bình thường, chỉ có một chỗ to tròn lên. A, đây mới là chỗ chúng ta lo ngại. Vì đa số các anh chàng “to lên chỉ một cục” kiểu này hiền lành (benign), nhưng thỉnh thoảng cũng có anh chàng thuộc loại độc (malignant), ung thư. Lại càng nên nghi ngờ, nếu người bệnh có người trong gia đình bị ung thư tuyến giáp trạng, hay ngày trước, khi còn bé, người bệnh có bệnh nào đó, được chữa trị bằng cách chiếu điện (radiation) vào vùng đầu, cổ. Hoặc khi thăm khám, thấy ở cổ quanh tuyến, có những hạch khả nghi [đặc tính của ung thư là bò đi chỗ khác, nên có thể bò đến một hạch bạch huyết (lymph node) gần đó]. Đây là những yếu tố khiến chúng ta tăng cảnh giác.

Chọc một kim nhỏ vào trong cục u, lấy ra một ít thịt đem thử, có thể phân biệt được cục u lành hay độc. Độc thì đem cắt bỏ, lành để đấy, lâu lâu xem xét lại, xem nó có tiếp tục lớn lên, hay có bắt đầu dở chứng, gây triệu chứng gì bất thường.

Dù là nó lành, nhưng bạn vẫn nóng lòng, muốn cục u giáp trạng phải nhỏ đi, biến mất? Bác sĩ có thể chiều bạn, thử dùng thuốc thyroxine nhân tạo một thời gian, xem nó có chịu nhỏ đi không. May thì nó nhỏ lại, thường thì nó cứng đầu và không chịu nghe lời bác sĩ. Trường hợp này, ta cứ để nó đấy theo dõi, nếu nó tiếp tục lớn lên, hoặc có hành vi gì bất thường, ta sẽ đâm kim thử thịt lại, và có khi mổ, cắt bỏ đi cho chắc ăn.

Ung thư tuyến giáp trạng (thyroid cancer)

Ung thư tuyến giáp trạng thường xuất hiện dưới hình thức một cục tự nhiên nổi u lên trong tuyến giáp trạng. Bạn biết rồi, cục u này có khi khó phân biệt với một cục u lành. Anh chàng này khả nghi nếu dở chứng lớn vọt lên thời gian gần đây. Nhất là lại có những hạch nổi lên bất thường quanh đấy.

Ung thư tuyến giáp trạng có nhiều loại khác nhau, cần những cách chữa trị khác biệt. Bạn cũng biết rồi, cách tốt nhất là... đâm kim xin chàng tí thịt đem thử. Nếu chàng đích thị là ung thư, ta sẽ tùy chàng là loại ung thư nào mà xử trí: mổ cắt, chạy điện, hay chữa bằng thuốc chống ung thư.

Kể bệnh

Bệnh như người, mỗi đứa chúng đều có tên riêng đàng hoàng, chúng ta nói đúng tên nó, ai cũng hiểu.

Khi bạn đi khám bác sĩ (nhất là bác sĩ Mỹ dốt tiếng Việt), thay vì nói có bệnh “bướu cổ”, bạn nên nói bạn bị (hay nghĩ là có thể bị) bệnh tuyến giáp trạng (thyroid disease), bác sĩ sẽ hiểu hơn. Càng quí, nếu bạn có thể khai được chính xác: “Tôi bị bệnh cường tuyến giáp trạng (hyperthyroidism), suy tuyến giáp trạng (hypothyroidism), bướu lành tuyến giáp trạng (thyroid goiter), hay... ung thư tuyến giáp trạng (thyroid cancer)”. Rồi khi kể bệnh, bạn trình bày mạch lạc, theo thứ tự thời gian, và chú trọng kể các triệu chứng sau:

· Bạn có thấy tuyến giáp trạng của bạn lớn hơn bình thường? Nếu có, từ bao lâu?

· Bạn có những triệu chứng bất thường hay không: kém chịu nóng, hay toát mồ hôi, tinh thần căng thẳng, mất ngủ, tính tình thất thường, tay chân run rẩy, ăn nhiều mà vẫn xuống cân, mau bị mệt, hồi hộp, khó thở, hay tiêu chảy, kinh ra ít? Hoặc ngược lại: kém chịu lạnh, hay buồn ngủ, hay quên, mệt mỏi, bón, chảy máu tử cung bất thường, nhức mỏi bắp thịt, khan tiếng, ăn kém ngon nhưng vẫn lên cân?

· Trong gia đình (bố, mẹ, anh, chị, em ruột), có ai bị bệnh tuyến giáp trạng? (bệnh tuyến giáp trạng hay di truyền).

Nếu bệnh đang uống thuốc chứa chất thyroxine (như Synthroid), bạn cho bác sĩ biết, bác sĩ trước cho bạn dùng thuốc này vì tuyến giáp trạng bạn suy, hoặc không, nó vẫn siêng năng làm việc, nhưng chỉ vì nó to lên bất thường, bác sĩ trước muốn dùng thuốc để cố làm nó bớt to thôi. (Các bác sĩ cũng vậy, khi cho người bệnh loại thuốc này, nên giải thích kỹ lưỡng, kẻo khổ cho các bác sĩ khác sau phải chữa và theo dõi người bệnh lắm lắm.)

Bệnh tuyến giáp trạng rất rắc rối. Càng rắc rối nếu chúng ta không gọi đúng tên bệnh. Trong phong trào gọi cho đúng tên bệnh, các bác sĩ nên làm gương trước.

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

Não bộ người già

Óc của người già thực sự hãy còn rất nhiều bí ẩn. Trải qua bao năm nghiên cứu nhưng chúng ta vẫn chưa hiểu óc chúng ta đã già đi như thế nào? Việc trở ngại trước tiên là bởi loài người có đời sống tương đối ngắn ngủi, không đủ thời gian để nghiên cứu óc già biến chuyển ra sao. Không lâu lắm, chỉ khoảng một trăm năm về trước, 1900, lúc đó người Mỹ sống thọ trung bình có 47 tuổi, nghĩa là gần tương đương với tuổi thọ của chúng ta ở Việt Nam. Ngày nay, tuổi thọ của người Việt hải ngoại đã khá hơn. Riêng đối với người Mỹ, tuổi thọ bây giờ tăng lên tới 75 tuổi.

Óc chỉ cân nặng 3 cân (lb), nhưng óc là bộ phận quan trong bậc nhất của cơ thể. Óc điều khiển tim đập đều đặn, giúp hơi thở điều hòa, và bảo tồn trí nhớ cho mỗi người.

Mỗi khối óc chứa hơn trăm tỉ tế bào não, có nhiệm vụ phát điện từ hệ thần kinh ra ngoài và từ ngoài vào trong. Tế bào thần kinh đưa tín hiệu tới hàng ngàn tế bào khác, vận tốc lên tới 200 dặm một giờ, liên hệ rất nhiều điện tín qua lại và tùy thuộc nhiều hóa chất trong não.

Gần đây, chúng ta hiểu rõ hơn bệnh lãng quên Alzheimer cũng là bởi tế bào thần kinh hết hoạt động khi già nua. Chúng ta cũng biết thêm rằng nếu không vì bệnh tật thì tế bào vẫn còn khỏe mạnh cho tới lúc chết. Ngoài ra chúng ta còn rõ vài ba điều căn bản khác nữa sau đây:

· Tuổi từ 20 tới 90, cân lượng óc sẽ càng ngày càng giảm đi, khoảng 5 tới 10%.

· Những vết lõm xung quanh não càng ngày càng rộng ra.

· Tích tụ đây đó những tế bào não chết đi hợp lại thành từng mảng.

· Bệnh lãng quên khi về già không phải do tế bào não bị hư và chết đi như trước đây nhầm tưởng. Nhưng chính là do sự giảm hoạt động trong não liên hệ những phản ứng tương tác do những hóa chất trong não thay đổi khi về già. Thí dụ bệnh Alzheimer liên hệ hiện tượng viêm não khi về già và sinh ra những tảng amyloid. Và chính những tảng amyloid này đã gây trở ngại cho trí nhớ và giết chết tế bào não.

Não già liên hệ hóa chất dopamine thuyên giảm trong não. Khi giảm dopamine cũng sẽ làm giảm trí nhớ. Bình thường dopamine có thêm nhiệm vụ khác là gây khoái cảm cho con người.

Tiếp theo là di truyền ảnh hưởng tới não già nua. Những khám phá quan trọng hơn gần đây cho biết lối sống cũng ảnh hưởng tới não già chẳng hạn ăn uống quá kiêng khem và lành mạnh có thể giảm tốc độ óc già. Ngược lại bệnh tiểu đường sẽ làm óc già hơn khi so sánh với người bình thường.

Thêm những yếu tố khác nữa cũng ảnh hưởng óc già, thí dụ:

· Vấn đề giáo dục tăng trưởng, sống trong những môi trường có đời sống tâm linh tốt, hoạt động và thể dục sẽ giúp sinh sản thêm tế bào não mới.

· Tập thể dục ít nhất 45 phút mỗi lần, 3 lần mỗi tuần, sẽ giúp trí nhớ khá hơn khi về già.

· Nghỉ ngơi hay ngủ đủ 8 tiếng mỗi ngày sẽ chống được bệnh tật kinh niên, bảo vệ trí nhớ.

· Bệnh cao huyết áp ảnh hưởng làm óc nhỏ lại và giảm trí nhớ. Dù uống thuốc để giảm cao máu nhưng óc vẫn bị teo và giảm trí nhớ như thường.

· Cơ thể căng thẳng sinh kích thích tố cortisol ra nhiều, sẽ ảnh hưởng tế bào thần kinh khu hippocampus trong não.

· Thương tích ở đầu, thí dụ võ sĩ bị đánh vào đầu có thể sinh triệu chứng giống bệnh lãng quên Alzheimer.

Tóm lại, giữ gìn sức khỏe tốt là điều cần thiết giúp óc hoạt động lâu dài. Chẳng hạn, cần kiểm soát huyết áp kỹ lưỡng, kiểm soát đường và cholesterol trong máu, ăn uống lành mạnh, uống vài thứ sinh tố, tâp thể dục và giữ tinh thần tráng kiện là những phương cách hay nhất để giúp trí não hoạt động cao độ.

Nhưng chúng ta còn phải chờ thêm nhiều khảo cứu trong tương lai, như tìm cách giảm chất amyloid trong não, dùng phương pháp gen trị liệu, cấy tế bào não lành mạnh để phát sinh loại bạch đản đặc biệt giúp tế bào não tăng trưởng. Nghĩa là khoa học sẽ còn đi sâu hơn, nghiên cứu về gen nhiều hơn và hy vọng một ngày nào đó sẽ biến đổi được hiện tượng óc già của loài người.

Bác sĩ Trần Mạnh Ngô

Bướu óc

Brain tumor

Người bệnh khai với bác sĩ: “Hơn tháng nay, tôi nhức đầu hoài. Buổi sáng mới thức dậy nhức nhiều, có khi khom xuống hay tằng-hắng cũng nhức. Càng ngày càng nhức hơn, có khi nhức cả buổi. Trước giờ đâu có khi nào nhức lâu như vầy”.

Triệu chứng bướu óc

Nhức đầu rất hay xảy ra, nhưng nếu kéo dài lâu ngày, lại kèm theo những triệu chứng khác như buồn nôn, ói mửa, mắt mờ, hoặc tay chân một bên yếu đi, nhức đầu có thể là triệu chứng của bướu óc. (Một số người bị bướu óc trong thời kỳ đầu không có triệu chứng nhức đầu). Ngoài nhức đầu và những triệu chứng kể trên, bướu óc có thể gây những triệu chứng sau đây:

· Động-kinh (seizure): tức người bệnh bị co giật toàn thân, rồi bất tỉnh trong một thời gian ngắn, hoặc có khi chỉ một tay hay chân co giật thôi, và người bệnh không bất tỉnh.
· Biến đổi tâm tánh và tình trạng tri-giác, trí nhớ kém đi.
· Thị-giác suy giảm, hay không còn thấy hết những gì trong tầm mắt.
· Miệng nói đớ, hay khó tìm lời để diễn tả tư tưởng.
· Ngửi không biết mùi, hoặc thính-giác kém (lãng tai).
· Mất cảm giác (tê), hoặc tay, chân một bên yếu đi.
· Mắt bỗng dưng lé.
· Đi đứng mất thăng-bằng.
· Đi tiểu trong quần.

Bướu óc còn có thể gây ra nhiều triệu chứng và biến đổi khác nữa, tùy vị trí của bướu nằm đâu trong óc. Khi thấy có những triệu chứng bất thường, người bệnh cần đến bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Định bệnh
Những phương pháp quang ảnh sau giúp định bệnh bướu óc nhanh chóng:
1. Phim CT scan:
Phương pháp này hiện nay thông dụng nhất. Người bệnh được tiêm một chất thuốc qua đường tĩnh mạch để làm bướu óc hiện rõ hơn trên phim. Người bệnh chỉ cần nằm yên trong một thời gian ngắn trên bàn chụp ảnh.

2. MRI scan:
Người bệnh cần nằm yên lâu hơn, và một chất thuốc cũng được truyền qua đường tĩnh mạch để làm hiện rõ bướu trên phim. MRI scan có thể cho thấy những bướu nhỏ (dưới 0.5 cm) hoặc những bướu nằm tại vị trí gần đáy sọ mà phim CT scan không phát hiện được.

Những phương pháp quang ảnh giúp xác định vị trí và kích thước của bướu, và nhiều khi còn có thể giúp chúng ta đoán loại bướu, cũng như tính lành hay dữ của nó. Thêm vào đó, các phim quang ảnh cho thấy tầm mức sưng phù chung quanh bướu, và mức độ đè nén trên óc do bướu gây nên.

Các loại bướu óc
Cách phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization) được dùng hiện nay sắp xếp các bướu óc tùy theo tế bào hay mô từ đó bướu xuất phát. Đại khái, chúng ta có thể kể: bướu xuất phát từ những tế bào của óc, từ màng óc, từ dây thần kinh sọ và ngoại biên, v.v., và những bướu chyển di, tức xuất phát từ một bướu ở một nơi khác trong cơ thể, rồi theo máu đến óc.

Bướu cũng thường được phân ra hai loại, lành (benign tumor) và dữ (malignant tumor, còn gọi là ung thư), để giúp tiên lượng tiến trình của bướu. Việc định tính lành hay dữ của bướu chỉ có thể chính xác khi có khảo nghiệm mô học dưới kính hiển vi. Vì thế, ngoài các phim quang ảnh, việc định bệnh đôi khi cũng cần đến phương pháp sinh-thiết (biopsy), tức cần đến một cuộc giải phẫu để lấy một miếng bướu đem lát mỏng rồi nhuộm thuốc xem dưới kính hiển vi.

Nguyên nhân
Một số yếu tố được xem có thể gây ra bướu óc, như phóng xạ, các chất hoá học, đồ ăn thức uống, rượu, thuốc lá, chấn thương đầu, v.v.. Nhưng cho đến nay, các nghiên cứu chưa đưa ra được một kết luận nào chắc chắn.

Cũng may, bướu óc hiếm khi xảy ra, tuy làm người bệnh mất khả năng hoạt động nhiều hơn, so với các bướu ở những cơ quan khác. May hơn nữa cho chúng ta, người Á-châu ít bị bướu óc hơn những sắc dân khác.

Chữa trị
Hiện nay, những phương pháp điều trị bướu óc gồm có:
1. Giải phẫu cắt bỏ bướu:
· Trường hợp bướu lành, bác sĩ giải phẫu sẽ cố gắng cắt bỏ hết bướu, người bệnh kể như khỏi bệnh. Đôi khi bướu lành cũng tái phát, và cần phải giải phẫu lại.

· Trường hợp bướu dữ (ung thư), phẫu thuật không thể nào cắt bỏ hết tất cả các tế bào bướu, và những tế bào còn sót lại sẽ tiếp tục sanh sôi nảy nở. Vì thế, sau khi giải phẫu, người bệnh cần được trị liệu thêm bằng tia phóng xạ và bằng thuốc. Các bướu dữ thường tái phát sau một khoảng thời gian từ vài tháng đến vài năm.

2. Trị liệu bằng tia phóng-xạ (radiotherapy):
Phương pháp trị liệu này dùng nhiều kỹ thuật và sử dụng những tia phóng xạ thuộc nhiều loại khác nhau. Chuyên gia trị liệu phóng xạ sẽ tùy vào loại bướu mà quyết định áp dụng kỹ thuật nào.

3. Trị liệu bằng thuốc (chemotherapy):
Phuơng pháp này dùng thuốc uống hay tiêm qua tĩnh mạch để cố tiêu diệt hết những tế bào bướu dữ. Tuy nhiên, những loại thuốc này cũng gây ít nhiều độc hại cho người bệnh nên việc dùng thuốc cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Chuyên gia trị liệu sẽ quyết định dùng loại thuốc gì, cho thuốc nhiều ít và trong khoảng thời gian bao lâu.

Một thuốc cũng thường được dùng cho bướu óc là dexamethasone. Thuốc thuộc loại steroids, có tác dụng làm giảm sưng phù phần óc chung quanh bướu. Thuốc hiệu nghiệm và tác dụng rất nhanh, tuy không làm tan bướu nhưng giúp cho óc bớt bị sưng phù, phục hồi các chức năng thần kinh và làm giảm các triệu chứng nhức đầu, tê yếu tứ chi, v.v.. Thuốc này dùng song song với các phương thức điều trị khác.

Tóm lại, việc điều trị bướu óc tùy vào loại bướu, vị trí và kích thuớc lớn nhỏ của bướu, cùng những yếu tố khác như tuổi tác và sức khoẻ tổng quát của người bệnh.

Như vậy, việc trị liệu bướu óc dữ và bướu óc lành có rất nhiều điểm khác biệt:

A. Bướu dữ:
· Nếu bướu dữ xuất phát từ những tế bào tại óc, và có thể cắt bỏ được, thì giải phẫu là bước đầu tiên. Sau khi giải phẫu cắt bỏ bướu đến mức tối đa (mà không làm người bệnh mất thêm chức năng thần kinh), tia phóng xạ và thuốc trị bướu sẽ được dùng để điều trị tiếp.

· Nếu bướu dữ thuộc loại chuyển di (mọc từ nơi khác trong cơ thể rồi theo máu đến óc), nhưng ảnh quang tuyến cho thấy chỉ có một bướu duy nhất trong óc, bướu óc có thể được cắt bỏ bằng phẫu thuật. Sau đó, người bệnh sẽ được tiếp tục điều trị bằng tia phóng xạ và thuốc. Nếu quang ảnh cho thấy có nhiều buớu chuyển di xuất hiện một lượt, thì phẫu thuật sẽ không giúp ích gì ngoài việc làm sinh thiết để định bệnh (mổ lấy một miếng bướu đem xem dưới kính hiển vi, hầu biết bướu thuộc loại nào). Một khi loại bướu đã được xác định rồi thì sẽ áp dụng phương pháp trị liệu bằng tia phóng xạ hay bằng thuốc tùy trường hợp.

Trong những trường hợp bướu dữ, người bệnh cần được theo dõi thường xuyên. Hình quang ảnh sẽ cho biết khi nào bướu tái phát. Trong trường hợp bướu tái phát, phẫu thuật có thể được sử dụng một lần nữa để cắt bỏ bướu.

B. Bướu lành:
Mục tiêu là cắt bỏ hết bướu bằng phẫu thuật mà không làm cho bệnh nhân bị tê liệt hay mất một chức năng thần kinh nào. Nếu bướu tuy lành, nhưng đã ăn dính vào các bộ phận quan trọng của hệ thần kinh (như các mạch máu lớn, các dây thần kinh, hay trục não), thì việc cắt bỏ hẳn không thể thực hiện được. Trường hợp này, bác sĩ giải phẫu sẽ cố gắng cắt bỏ càng nhiều càng tốt; phần bướu còn lại sẽ được theo dõi bằng hình ảnh quang tuyến. Nếu bướu tăng trưởng trở lại, có thể dùng phẫu thuật để cắt bỏ lần nữa.

Bướu lành cũng có loại có thể trị bằng tia phóng xạ. Nếu không thể dùng phẫu thuật cắt bỏ hết được thì dùng tia phóng xạ để làm bướu nhỏ lại hoặc chậm tăng trưởng. Những bướu xuất phát từ tuyến-yên (pituitary gland, một tuyến nội tiết rất quan trọng nằm tại óc) tiết ra kích-thích-tố, có thể điều trị bằng thuốc mà không cần giải phẫu, trừ trường hợp bướu quá lớn khiến những cơ quan chung quanh bị đè ép.

Một số phương pháp trị liệu mới như thay đổi đặc tính di truyền của tế bào bướu (gene therapy) còn đang trong vòng thử nghiệm và mới chỉ được dùng cho một vài loại bướu tại các trung tâm nghiên cứu.

Tiên lượng bệnh
1. Bướu lành:
Bướu lành cắt bỏ hoàn toàn, ít khi tái phát và bệnh được trị dứt. Nếu không thể cắt bỏ hết, bướu lành có tái phát cũng tăng trưởng chậm, người bệnh có thể sống khỏe mạnh trong nhiều năm. Nếu bướu lành đã ăn vào các cơ quan thần kinh làm tê, liệt, mù mắt, điếc tai, v.v., người bệnh sẽ mất đi những chức năng đó.

2. Bướu dữ:
Bệnh không thể trị dứt được và sẽ tái phát. Trị liệu bằng tia phóng xạ và thuốc có thể gia tăng thời gian sống sót từ vài tháng đến vài năm.

Nhiều lúc, đứng trước người bệnh bị bướu óc không thể điều trị dứt được, người y sĩ chỉ còn cách giúp người bệnh sống thoải mái và bớt đau đớn trong những ngày còn lại trên thế gian.

Dù với đầy đủ những phương tiện điều trị tân tiến nhất, hiện tại, cũng chỉ một số bệnh có thể trị dứt mà thôi. Nhưng người y sĩ vẫn có thể tìm cách giảm bớt được những thống khổ thể xác và tinh thần của người bệnh.

Tài Liệu tham khảo:
Kaye AH, Laws Jr ER, Ed. Brain tumors. An Encyclopedic Approach. Churchill Livingstone, New York, 1995.

TÁO BÓN

Constipation

Đời lắm nỗi bất công, kẻ thơ thới đi cầu, người nhó nhăn táo bón. Mỗi năm, có hơn 2 triệu rưỡi người ở Mỹ đi thăm bác sĩ vì táo bón.

Bón không những khó chịu, còn có thể làm nứt hậu môn gây đau, khiến bệnh trĩ nặng hơn, trực tràng sa xuống (rectal prolapse), phân vón chặt trong trực tràng gây đau bụng, buồn nôn, ói mửa, bí tiểu.

Chúng ta hay nghĩ cứ phải đi cầu đều mỗi ngày mới là bình thường, nên nhiều vị tưởng mình táo bón. Thực ra, thói quen đi cầu của người lớn chúng ta khác nhau nhiều lắm, từ vài lần mỗi ngày, đến vài lần mỗi tuần.

Theo định nghĩa, ta bị táo nếu có hai (hoặc hơn) những triệu chứng sau đây:

* Đi cầu ít hơn 3 lần mỗi tuần
* Khi đi cầu, phân hay cứng, ra thành cục nhỏ
* Khi đi cầu, hay phải rặn dữ phân mới chịu ra
* Khi đi cầu, hay phải dùng tay giúp phân ra
* Khi đi cầu, hay có cảm giác phân kẹt không ra
* Hay có cảm giác đi cầu không hết khi đã xong việc

Như vậy, nếu bạn đi cầu có 3 lần mỗi tuần thôi, song vẫn dễ dàng và thoải mái lắm, bạn... chưa bị táo bón.

Nguyên nhân táo bón kinh niên

Càng lớn tuổi chúng ta càng dễ bón. Các vị cao niên thường ít ăn rau trái cùng những thực phẩm giúp chống bón, không uống đủ nước, ít vận động hơn người trẻ, uống nhiều loại thuốc có thể gây bón.

Rất nhiều nguyên nhân khác nữa gây bón:

· Bất thường về cấu trúc của đường tiêu hóa: bướu (như ung thư ruột già), trực tràng lồng vào nhau hoặc bị sa, thòng (rectal intussusception or prolapse, rectocele).

· Bất thường cơ năng (functional abnormality): bệnh ruột quá nhạy cảm (irritable bowel syndrome).

· Bệnh nội tiết: bệnh tiểu đường, bệnh suy tuyến giáp trạng (hypothyroidism), bệnh cao hoặc thấp chất calcium trong máu (hypercalcemia, hypocalcemia).

· Bệnh thần kinh: aganglionosis, intestinal pseudo-obstruction, multiple sclerosis, Parkinson’s disease.

· Mang thai.

· Thuốc dùng: rất nhiều thuốc có thể gây bón: anticholinergics, antidepressants (chống sầu buồn), antiparkinsonian agents (chữa bệnh run Parkinson), calcium-channel blochers (chữa cao áp huyết), iron supplements (thuốc chứa chất sắt), opiates (thuốc chứa chất nha phiến), v.v..

Trong những trường hợp táo bón không tìm thấy nguyên nhân rõ rệt, có lẽ bón gây do ruột già chuyển động chậm (slow colonic transition) hoặc sàn vùng chậu không làm việc đàng hoàng (pelvic floor dysfunction, các bắp thịt vùng chậu và hậu môn không nới lỏng lúc chúng ta rặn khi đi cầu).

Kể bệnh và khám bệnh

Để giúp bác sĩ tìm ra nguyên nhân gây chứng bón khiến bạn buồn phiền, khi tâm sự với bác sĩ, bạn cho bác sĩ biết ba điểm quan trọng:

· Chứng bón mới đến thăm bạn đây hay ở với bạn đã lâu?

· Thực sự, bạn bảo bạn bị bón, bạn muốn nói: bạn ít khi đi cầu, phân bạn cứng, hay bạn phải rặn đỏ cả mặt khi đi cầu, hoặc bạn đi không hết phân, v.v.?

· Mỗi tuần, bạn thử nhớ, bạn đi cầu tổng cộng mấy lần?

Thế còn thuốc dùng, bạn có nhớ mang tất cả theo cho bác sĩ xem không. Kể cả những thứ mua không cần toa, như các thuốc chảy mũi, nghẹt mũi Dimetapp, Benadryl, Tavist, v.v.? Chúng có tính anticholernergic, hay gây bón. Và nhiều thuốc khác nữa. Tốt nhất, đi khám bệnh vì bất cứ triệu chứng gì, bạn đều đem theo thuốc cho bác sĩ xem.

Còn nữa. Bạn có đau bụng, đau vùng hậu môn khi đi cầu, bạn có xuống cân, chảy máu trực tràng (rectal bleeding) không? Trong lúc đi cầu, bạn có phải ngồi ở một vị trí nào đặc biệt để cố đi? Bạn có phải dùng tay ấn phía trước hậu môn, hoặc đưa tay vào âm đạo đè vào trực tràng ở phía sau để giúp phân ra không? (nếu vậy, bạn có thể bị thòng trực tràng, rectocele). Nếu cứ có cảm giác đầy đầy trong trực tràng, xin bạn cho biết luôn, để ta cùng nghĩ đến các bệnh sa trực tràng (rectal prolapse), trực tràng lồng vào nhau (rectal intussusception), và thòng trực tràng (rectocele). Những lúc bạn không đi cầu, phân bạn nó có tự ý rò ra không (fecal incontinence).

Trong lúc bạn kể bệnh, bác sĩ kín đáo để ý xem nét mặt bạn thế nào, có lộ những nét căng thẳng, buồn sầu chăng. Người căng thẳng, buồn sầu hay bị bón, và có khi đang dùng thuốc tâm thần khiến họ bón thêm. Rồi đến lúc thăm khám cho bạn, bác sĩ sẽ khám tổng quát trước, xem bạn có bệnh toàn diện nào ảnh hưởng cả đến sự hoạt động của bộ máy tiêu hóa bạn, chẳng hạn như các bệnh suy tuyến giáp trạng, bệnh run Parkinson, v.v.. Bác sĩ ngắm xem bạn có gầy còm, xanh xao không, vì bệnh ung thư ruột già có thể gây bón, còn làm ta xuống cân, mất máu. Khi khám hậu môn của bạn, bác sĩ sẽ để ý xem hậu môn bạn có vết nứt nào (anal fissures) hoặc có trĩ (hemorrhoids) khiến bạn đau, và đâm ngại đi cầu. Bác sĩ nhờ bạn rặn thử, như lúc đi cầu, để xem trực tràng của bạn có sa xuống không.

Sau đó, bác sĩ sẽ đưa ngón tay vào hậu môn bạn để thăm khám tiếp. Bạn chịu khó chút. Dùng ngón tay thăm như vậy, bác sĩ có thể khám phá bạn có vết nứt hậu môn, trĩ, mạch lươn (fistulas), đồng thời thẩm định xem cơ vòng hậu môn của bạn có còn làm việc đàng hoàng không. Bác sĩ lại nhờ bạn rặn như đi cầu lần nữa, để xem bên trong, trực tràng có thòng xuống bất thường lúc bạn rặn không, và cùng lúc, nếu cơ vòng hậu môn, lẽ ra nó phải dãn ra để phân bạn thoát ra dễ dàng, mà không, nó lại siết lại, thì đúng là nó không muốn làm việc rồi.

Với ngón tay trong hậu môn bạn, bác sĩ cũng xem bạn có bị bướu trong trực tràng, có bị vón phân (fecal impaction), có khi thành một cục to như trái banh tennis, khiến bạn đã bón càng thêm bón, hoặc ngược lại, khiến phân cứ hay nhỉ ra, nhỉ ra những lúc bạn không đi cầu, khiến bạn thấy phiền quá.

Với những vị lớn tuổi mới bị bón đây, ta cẩn thận và nghĩ xa hơn chút, vì sợ ung thư ruột già là nguyên nhân làm bón. Nếu cùng với bón, có cả chảy máu trực tràng hoặc thiếu máu do thiếu chất sắt, ta nên nhờ bác sĩ chuyên khoa đường tiêu hóa soi toàn thể ruột già (colonoscopy) cho chắc ăn, kẻo có ung thư nó nằm đâu đó. Còn không (không chảy máu trực tràng, không thiếu máu do thiếu chất sắt), soi ruột không gấp, ta chụp phim ruột già, vì phim chụp có thể cho thấy ruột già hoặc trực tràng có to bự bất thường hay chăng (megacolon or megarectum).

Chữa trị

Bón ít khi gây do những nguyên nhân nguy hiểm, nên nếu việc thăm khám không cho thấy có gì lạ lắm, chúng ta có thể bắt tay ngay vào việc chữa trị, chưa cần phải thử máu hoặc làm những trắc nghiệm phức tạp.

Chữa bón gồm 4 bước, từ nhẹ nhàng đến nặng tay. Bước đầu, bạn nên thường xuyên vận động (như đi bộ 30-45 phút mỗi ngày), uống nước cho đủ (6-8 ly nước mỗi ngày), và hàng ngày, bỏ ra 15-20 phút để nhẩn nha đi cầu. Hãy lắng nghe và đáp ứng những tín hiệu đòi đi cầu của bộ tiêu hóa, những tín hiệu này mạnh nhất sau khi ta ăn, nhất là sau bữa sáng. Nếu ta phe lờ, tín hiệu muốn đi cầu từ bộ tiêu hóa sẽ yếu dần rồi hết hẳn, nó thôi, không nhắc ta nữa.

Bạn nên ăn nhiều rau, trái cây, bran cerial, whole wheat bread, v.v., những thực phẩm chứa nhiều chất sợi (fiber) giúp ta đi cầu đều hơn. Mỗi ngày bạn cần khoảng 20-35 g chất sợi để chống bón. Bạn đang dùng thuốc gì nghi có thể gây bón ư, ta giảm lượng thuốc, hoặc đổi sang một thuốc khác không gây bón.

Nếu bạn không ăn đủ rau trái, bran cerial, whole wheat bread, v.v., để có đủ 20-35 g chất sợi mỗi ngày, ta sang bước thứ hai. Bác sĩ sẽ khuyên bạn dùng các thuốc cung ứng chất sợi (polycarbophyl, psyllium, methylcellulose) để đi cầu đều hơn. Còn phân của bạn quá cứng ư, bạn có thể dùng thuốc làm mềm phân (stool softener), như thuốc Colace.

Với những biện pháp trên, mà cái ruột của bạn vẫn ỳ ra, ta phải sang đến bước thứ ba, tuần 2-3 lần, dùng thêm các thuốc xổ có tác dụng thẩm thấu (osmotic laxatives) chứa chất muối magnesium (magnesium citrate, magnesium hydroxide), sodium phosphates, hoặc các chất đường không hấp thụ (nonabsorbable sugars) như lactulose, sorbitol. Các thuốc này tương đối lành, tuy nhiên, ta không nên dùng chúng cho những vị bị suy thận (renal insufficiency), hoặc phải ăn một thực phẩm lạt, ít chất muối sodium.

Bước thứ tư là bước cuối trong sự chữa trị bằng thuốc, gồm những thuốc xổ có tác dụng kích thích (stimulant laxatives), như các thuốc bisacodyl, senna, v.v., dùng cho những cái ruột già cứng đầu, không chịu làm việc gì cả. Đã đến bước này, mà cũng chẳng ăn thua, thì đúng là ta gặp phải cái ruột già ngoan cố.

Với những cái ruột già ngoan cố, ta cần tìm xem những nguyên nhân sâu xa bên trong gây bón. Những thử máu thường được làm, trường hợp chứng bón của bạn cứng đầu, không chịu thua những cách ta đã thử kể trên: TSH, calcium, glucose, creatinine, complete blood count (đếm máu toàn diện, hay được viết tắt CBC), để truy tìm các bệnh suy tuyến giáp trạng, cao hoặc thấp calcium trong máu, suy thận, những bệnh hay gây bón. Còn làm CBC (đếm máu toàn diện) để xem bạn có thiếu máu không, nếu có, ta nên nghĩ đến ung thư ruột già, một bệnh chúa hay gây thiếu máu.

Nếu mọi tìm hiểu với thử máu đều bình thường, và chứng bón của bạn nó vẫn quá lắm, không có mòi thuyên giảm, đây là lúc bạn cần được chuyển đến bác sĩ chuyên khoa đường tiêu hóa, để bác sĩ chuyên khoa soi đường tiêu hóa phía dưới của bạn (sigmoidoscopy) xem có gì lạ, và nếu cần sẽ làm những trắc nghiệm đặc biệt như đo lường sự chuyển động của ruột già (measurement of colon transit), đo áp suất vùng hậu môn-trực tràng (anorectal manometry), chụp phim lúc đang đi cầu (defecography), v.v.. Sự chữa trị sau đó sẽ tùy vào kết quả của những trắc nghiệm đặc biệt này. Thỉnh thoảng, có chứng bón, hết thuốc chữa, vì trị liệu nào cũng vô phương, cách trị cuối cùng là đành cắt hẳn ruột già (colectomy).

Ôi, bón khiến nhiều người chúng ta đau khổ, mặt mày tư lự. Cũng may, thường nó không do nguyên nhân nguy hiểm. Bạn tăng cường vận động, uống cho đủ nước, ăn nhiều rau trái cùng những thực phẩm giúp chống bón, tránh những thuốc có thể gây bón, tập thói quen đi cầu đều mỗi ngày (nghe theo tiếng gọi của bộ tiêu hóa, đi ngay lúc nó muốn), thường bón sẽ bớt.

BS Nguyễn Văn Đức (California, USA)

Monday, September 29, 2008

Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng

Với nhịp độ sống và làm việc tăng như hiện nay, yêu cầu khả năng làm việc cao hơn, có nhiều căng thẳng (stress) hơn nên bệnh viêm loét dạ dày xuất hiện nhiều trong giới tri thức, thậm chí có một số cháu nhỏ học thi căng thẳng cũng có thể mắc bệnh. Đã có những trường hợp người bệnh chảy máu dạ dày hoặc thủng dạ dày ngay sau mổ (thủng hoặc chảy máu ổ loét dạ dày do stress), những bệnh nhân này hoàn toàn bình thường, chỉ sau mổ một ngày thậm chí một đêm đã bị thủng hoặc chảy máu ổ loét dạ dày.

Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng nói chung được mọi người gọi là bệnh dạ dày, hay gặp ở người lớn nhất là nam giới, tuy vậy cũng có nhiều trường hợp các cháu dưới 10 tuổi đã có viêm loét dạ dày. Từ viêm loét dạ dày có nghĩa là có viêm hoặc loét dạ dày hay tá tràng, nằm trong hệ thống ống tiêu hoá.


Dạ dày là một túi đựng thức ăn đặc biệt phía trên nối với thực quản phía dưới nối với tá tràng, ruột non. Ở người bình thường dạ dày nằm vùng trên rốn (thượng vị) liên quan đến gan, nách, tuỵ, đại tràng và mặt, phần đứng của dạ dày nằm ngay dưới mũi ức, phía dưới của phần nằm ngang gần ngang rốn. Sức chứa của dạ dày từ 1 - 1,5 lít tuỳ theo tuổi và tuỳ từng người. Khi có bệnh lý gây hẹp ở môn vị thức ăn không xuống được có thể làm dạ dày giãn xuống đến khung chậu.


Khi thức ăn rơi xuống dạ dày sẽ kích thích tiết pepsin và gastrin, chất gastrin sẽ kích thích tiết axit clo hydric (HCL) sau đó HCL sẽ hoạt hoá các men tiêu hoá, đồng thời tiết dịch vị. Dạ dày sẽ co bóp để nghiền thức ăn và đẩy thức ăn xuống. Tại đây, thức ăn đã nghiền nát sẽ trộn với dịch mật và các men tiêu hoá thành một hỗn dịch, chất bổ, và dinh dưỡng hấp thụ qua thành ruột về gan sau đó sẽ vào máu và đưa đi nuôi cơ thể. Còn chất bã được hút nước thành phân và thải ra ngoài.


Dạ dày được điều chỉnh bằng hai hệ thống là thần kinh và thể dịch, những rối loạn tác động đến hai hệ thống này đều có thể gây nên bệnh đau dạ dày (loét hoặc viêm dạ dày).


1. Nguyên nhân viêm loét dạ dày

Có nhiều nguyên nhân đưa đến bệnh viêm loét dạ dày bởi vì bất cứ lý do gì ảnh hưởng đến một trong hai yếu tố thần kinh hoặc dịch thể đều gây nên viêm loét dạ dày.


- Tính di truyền: Chúng ta thường nghĩ đau dạ dày cũng có tính di truyền. Cho đến bây giờ giới khoa học vẫn chưa khẳng định được bệnh dạ dày có di truyền hay không. Có thể có rất nhiều người mắc bệnh đau dạ dày, đôi khi trùng lặp trong một gia đình có nhiều người của nhiều thế hệ mắc bệnh làm cho người ta nghĩ đến bệnh di truyền.


- Chất kích thích tác động trực tiếp lên dạ dày (thể dịch):Thuốc lá và cà phê, hai chất kích thích này làm cho dạ dày tăng tiết mạnh cho nên tỷ lệ mắc bệnh ở những người nghiện cà phê và thuốc lá rất cao.


- Uống nhiều rượu bia và lối sống không khoa học: Thói quen ăn quá nhanh, không nhai kỹ, vừa ăn xong đã làm việc nặng hoặc chơi thể thao ngay hoặc ăn uống không giờ giấc nhất định, lúc no quá, lúc đói quá...


- Yếu tố thần kinh: Ở nước ta, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, yếu tố thần kinh căng thẳng thì bệnh thủng dạ dày, chảy máu dạ dày và viêm loét dạ dày cũng gia tăng.


- Nhịp sống nhanh: Ngày nay, với nhịp sống và làm việc tăng nhanh, yêu cầu khả năng làm việc cao hơn, có nhiều căng thẳng (stress) hơn nên bệnh viêm loét dạ dày cũng xuất hiện nhiều hơn trong giới tri thức, thậm chí có một số cháu nhỏ học thi quá căng thẳng cũng có thể mắc bệnh.


- Gần đây các nhà khoa học tìm thấy một loại vi khuẩn sống ở ruột thường hay xuất hiện ở dạ dày khi có viêm loét, đó là vi khuẩn HP (Helicobacter pylori), nhưng không phải là cứ có vi khuẩn HP là có loét và nếu có viêm loét dạ dày thì không chỉ dùng kháng sinh điều trị khỏi được viêm loét mà phải kết hợp với các loại thuốc giảm axit và thuốc bọc niêm mạc dạ dày.


Ngoài những yếu tố trên, còn có những yếu tố làm tăng khả năng viêm loét dạ dày như: mùa rét nhiều bệnh nhân đau hơn mùa nóng, rét đậm, rét hại có nhiều người đau hơn rét bình thường.


2. Triệu chứng của viêm loét dạ dày

Người bệnh viêm loét dạ dày thường đau bụng trên rốn (thượng vị), nếu không phải là viêm dạ dày cấp thì người bệnh đau âm ỉ, đau chu kỳ và đau theo mùa. Tuỳ theo vị trí của ổ loét mà người bệnh đau lúc đói hay lúc no, thường gặp đau về đêm hơn ban ngày, thậm chí có người đau theo giờ nhất định.


Kèm theo đau thường là ợ hơi, ợ chua, tuy vậy dấu hiệu này không nhất thiết phải có, nhiều người chỉ đau trên rốn một thời gian, không có triệu chứng ợ hơi ợ chua mà đi khám bệnh đã phất hiện loét dạ dày nặng rồi, ngoài ra có thể có các triệu chứng như táo bón, nôn hoặc đầy bụng khó tiêu...


3. Các biến chứng của viêm loét dạ dày

Có 4 biến chứng chính viêm loét dạ dày:

- Chảy máu dạ dày: Bệnh nhân có triệu chứng của đau dạ dày một thời gian, thường vào mùa rét đột nhiên thấy người choáng váng, vã mồ hôi, sau đó xuất hiện nôn ra thức ăn lẫn máu tươi, máu cục hoặc dịch nâu đen và nhiều giờ sau sẽ có phân đen sệt như hắc ín, khi cho nước vào thấy loang đỏ. Nếu chảy máu nhẹ thì người bệnh chỉ thấy mệt mỏi, đôi khi hoa mắt chóng mặt và ỉa ra phân đen chứ không có nôn ra máu.


- Thủng dạ dày: Thường thủng ở loét dạ dày hoặc ổ loét hành tá tràng, bệnh nhân đau đột ngột trên rốn, triệu chứng kinh điển mô tả đau đột ngột dữ dội như dao đâm trên rốn, cúi lom khom không đứng thẳng lên được, nếu thăm khám sẽ thấy bụng cứng như gỗ vì bệnh nhân đau phải cứng bụng để chống lại cái đau. Đây là bệnh cấp cứu vì nếu không phẫu thuật sớm sẽ đưa đến viêm phúc mạc và tử vong.


- Hẹp môn vị: Hẹp môn vị là do loét hành tá tràng hoặc loét môn vị, lúc đầy thức ăn ở dạ dày bị cản trở xuống chậm, dạ dày tăng co bóp, dần dần nếu hẹp hoàn toàn thức ăn không xuống được nữa, dạ dày giãn to, người bệnh gầy nhanh vì không có dinh dưỡng, nôn ra thức ăn cũ. Đây là biến chứng hay gặp ở loét hành tá tràng, ngày nay do nhiều phương tiện chuẩn đoán, nhiều thuốc tốt nên thủng dạ dày và hẹp môn vị đã giảm đi nhiều nếu người bệnh được phát hiện và điều trị sớm.


- Loét dạ dày ung thư hoá: Chỉ gặp ở các ổ loét dạ dày, chưa gặp trường hợp loét ở hành tá tràng, các ổ loét dạ dày lâu ngày có sự thay đổi tế bào dẫn đến ung thư hoá.


4. Các phương pháp phát hiện bệnh dạ dày

Ngoài khám lâm sàng, dựa vào triệu chứng người bệnh kể, bác sĩ có thể áp dụng một số biện pháp sau để chẩn đoán bệnh dạ dày.

- Chụp X-quang chẩn đoán: Bệnh nhân nhịn ăn, được uống một cốc thuốc cản quang, sau đó chụp nhiều film để phát hiện hình ảnh tổn thương, phương pháp này đã tồn tại rất nhiều năm đến nay ít có giá trị hơn nội soi chẩn đoán.


- Nội soi chẩn đoán: Các thầy thuốc dùng một ống nội soi mềm luồn từ miệng qua thực quản xuống đến dạ dày tá tràng, qua ống nội soi nhờ có camera quan sát thầy thuốc có thể phát hiện rõ tình trạng niêm mạc dạ dày, và các tổn thương ở dạ dày tá tràng, ngày nay, qua ống nội soi bác sĩ có thể tiến hành một số kỹ thuật như nong hang vị, sinh thiết ổ loét xét nghiệm tế bào, cắt các polyp hoặc can thiệp lên đường mật. Đây là phương pháp chính xác nhất, nhanh và có thể điều trị một số bệnh.


5. Các biện pháp phòng và chữa bệnh

Phòng bệnh đau dạ dày không khó khăn, chủ yếu là chế độ ăn uống và sinh hoạt điều độ, tránh các chất kích thích như thuốc lá, cà phê, rượu bia hoặc chế độ làm việc căng thẳng, cần có chế độ nghỉ ngơi, chơi thể thao rèn luyện thể lực và tránh stress, với những người làm việc trí óc cần có chế độ vận động phù hợp, tránh thức quá khuya.


Nam giới gặp nhiều hơn nữ giới, có thể do thói quen sinh hoạt giờ giấc không phù hợp, ăn uống thất thường, làm việc quá căng thẳng, hút thuốc và uống cà phê nhiều. Cần điều chỉnh thói quen sinh hoạt điều độ để tránh mắc bệnh dạ dày.


Điều trị bệnh dạ dày phụ thuộc lớn vào việc chẩn đoán chính xác và sự phối hợp của bệnh nhân, nếu như chẩn đoán đúng nhưng bệnh nhân không phối hợp thay đổi thói quen sinh hoạt không đúng hoặc không dùng thuốc đúng theo chỉ định thì điều trị không hiệu quả hoặc không như mong muốn, ngoài ra có thể dẫn đến tình trạng loét dạ dày nặng hơn.


Theo BS Cao Độc Lập

Chữa tóc bạc sớm theo kinh nghiệm dân gian

Tỏi 2 nhánh, gừng tươi 5 g, giã nát; bôi lên tóc mỗi buổi tối trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau gội thật sạch đầu bằng nước ấm, làm liên tục trong 3-4 tháng.

Tình trạng tóc bị bạc sớm thường do di truyền, dinh dưỡng và trạng thái tinh thần gây ra. Để chữa tóc bạc sớm, người bệnh phải dùng thuốc, nhưng ăn uống cũng góp phần làm giảm các triệu chứng, giữ cho tâm trạng vui vẻ. Ăn nhiều thực phẩm giàu chất dinh dưỡng… cũng đem lại hiệu quả tốt cho tình trạng trên.

Một số bài thuốc dân gian chữa tóc bạc sớm:

- Tim lợn kết hợp với 10 g bách tử nhân đã tán nhỏ đem hấp chín.

- Cà rốt 150 g, tủy lợn sống 30 g. Cà rốt rửa sạch ninh cùng với tủy lợn, ngày 2 lần.

- Vừng đen 300 g rang chín, hà thủ ô 300 g sấy khô hai thứ, tán mịn; đường trắng vừa đủ dùng, trộn lẫn với nhau, mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần 2-3 thìa cà phê hòa với nước sôi.

- Long nhãn 50 g, mộc nhĩ đen 3 g, đường phèn vừa đủ cho cả 3 thứ vào đun sôi kỹ rồi uống.

- Quả dâu rửa sạch, ép lấy nước, cho vào nồi (nồi đất) cô thành cao để uống.

BS Nguyễn Nghiêm, Sức Khỏe & Đời Sống

Ruột Thừa

Tuyển tập các bài giảng về nội soi Ruột Thừa bằng tiếng Anh
ĐH Y Dược Tp. Hồ Chí Minh

Appendectomy in pregnancy

Laparoscopic Appendectomy in Italy

Laparoscopic vs open appendectomy

Outcomes of Laparoscopic versus open Appendectomy

Residual appendix producing small-bowel obstruction and laparoscopic appendectomy


Lồng Ngực Tim Mạch

Tuyển tập các bài giảng về nội soi lồng ngực tim mạch bằng tiếng Anh - Pháp
ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh

Video-assisted thyroidectomy under local anesthesia

Mauro Boscherini, M.D.a, Rocco Bellantone, M.D.a

Celestino Pio Lombardi, M.D.a, Marco Raffaelli, M.D.a,*, Cristina Modesti, M.D.b,


Total endoscopic thyroidectomy: axillary or anterior chest approach

Y. Ikeda *, H. Takami, G. Tajima, Y. Sasaki, J. Takayama, H. Kurihara, M. Niimi


Anterior chest wall approach for video-assisted thyroidectomy using a modified neck skin lifting method

Shizuo Nakano *, Yuko Kijima, Tetsuhiro Owaki, Kazusada Shirao, Masamichi Baba, Takashi Aikou


Suction versus water seal after thoracoscopy for primary spontaneous pneumothorax: prospective randomized study

Adel K. Ayed, FRCSC a*


Role of Videothoracoscopy in Chest Trauma

Loïc Lang-Lazdunski, MD, Jerôme Mouroux, MD, Francois Pons, MD, Gilles Grosdidier, MD, Emmanuel Martinod, MD, Dan Elkaïm, MD, Jacques Azorin, MD, René Jancovici, MD


Severity of Compensatory Sweating After Thoracoscopic Sympathectomy

Peter B. Licht, MD, PhD, and Hans K. Pilegaard, MD


Diagnosis and Treatment of Mediastinal Tumors by Thoracoscopy*

Luı´s Marcelo Inaco Cirino, MD; Jose´ Ribas Milanez de Campos, MD;

Angelo Fernandez, MD; Marcos N. Samano, MD; Paulo Pego Fernandez, MD;

Luı´z Tarcı´sio B. Filomeno, MD; and Fa´bio Biscegli Jatene, MD


Thyroïdectomie endoscopique pour nodules thyroïdiens isolés Endoscopic thyroidectomy for solitary nodules

M. Gagner *, B.William Inabnet III, L. Biertho


Video-assisted neck surgery for thyroid and parathyroid diseases

Shigeto Maeda a,*, Kazuo Shimizu b, Shigeki Minami a, Naomi Hayashida a,

Tamotsu Kuroki a, Akira Furuichi a, Nozomu Sugiyama a, Katsu Ishigaki a,

Ryuichiro Suto a, Junichiro Furui a, Takashi Kanematsu a


Do bullae indicate a predisposition to recurrent pneumothorax ?

H J M SMIT, MD, PhD, M A Th P WIENK, MD


Early Evacuation of Traumatic Retained Hemothoraces Using Thoracoscopy: A Prospective, Randomized Trial
Dan M. Meyer, MD, Michael E. Jessen, MD,

Michael A. Wait, MD, Aaron S. Estrera, MD

Spontaneous Pneumothorax Steven A. Sahn, M.D., and John E. Heffner, M.D.

The Role of Thoracoscopy in the Management of Retained Thoracic Collections After Trauma B. Todd Heniford, MD, Eddy H. Carrillo, MD, David A. Spain, MD,
Jorge L. Sosa, MD, Robert L. Fulton, MD, J. David Richardson, MD

Thoracoscopy for Empyema and Hemothorax

Rodney J. Landreneau, MD; Robert J. Keenan, MD; Keith S. Naunheim, MD.


Video-assisted thoracic surgical treatment of initial spontaneous pneumothorax in young patients Marc Margolis, MD, Farid Gharagozloo, MD, Barbara Tempesta, MS, CRNP,

Gregory D. Trachiotis, MD, Nevin M. Katz, MD, E. Pendleton Alexander, MD

Mediastinal Cysts

Jane M Eggerstedt, MD, Richard Thurer, MD. F rancisco Talavera, PharmD, PhD.

Daniel S Schwartz, MD Paolo Zamboni, MD Mary C Mancini, MD, PhD


Diagnostic role of videothoracoscopy in mediastinal diseases

Luciano Solaini, Paolo Bagioni, Andrea Campanini, Basilio Domenico Poddie


Video-Assisted Thoracoscopic Closure of the Delayed Bronchial Rupture After Thoracoscopic Resection of Mediastinal Bronchogenic Cyst

Deog-Gon Cho, MD and Moon-Sub Kwack , MD


VATS Major Pulmonary Resection

Anthony P.C. Yim, M.D.


Cardiovascular changes during drainage of pericardial effusion by thoracoscopy

J. A. Fernández, R. Robles, F. Acosta, T. Sansano and P. Parrilla

Nội Soi Chẩn Đoán

Tuyển tập các bài giảng về Nội Soi Chẩn Đoán bằng tiếng Anh
ĐH Y Dược Tp. Hồ Chí Minh

Diagnostic laparoscopy through

Efficacy of routine laparoscopy

Laparoscopic evaluation of patients.pdf

Macroscopic assessment of the appendix

Minilaparoscopy in the diagnosis of peritoneal tumor spread

Selective use of diagnostic laparoscopy

Phẫu thuật nội soi khớp gối


Tuyển tập các bài giảng về phẫu thuật nội soi khớp và phổi

Arthrose , lésion méniscale et lligamentoplastie

Comparaison entre les deux greffons

Comparaison KJ et DiDt

Comparaison os tendon os didt


Tài liệu PTNS Khớp-Phổi


TRAITEMENT
ARTHROSCOPIQUE D’UNE FRACTURE DU TALUS

TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI

KHỚP GỐI

Arthrose , lésion méniscale et lligamentoplastie

Comparaison entre les deux greffons

Comparaison KJ et DiDt

Comparaison os tendon os didt

Comparaison PT et DiDt

Comparaison tendon rotulien et ischio jambiers

Comparaison TR et DIDT

Correlation between type of discoid lateral menisci and tear pattern

Cyclope

Evaluation, Classification et traitement de la lesion du ligament croise anterieur

Fixation fémorale

Fixation tibiale et tension du greffon

Fixation tibiale

FORMULAIRES D’EVALUATION DU GENOU DE L’IKDC

Incorporation du greffon

Influence of the Femoral Tunnel Location and angle on the contact pressure in the ACL reconstruction

Kinematics and Laxity of the Knee Joint after Anterior Cruciate Ligament Reconstruction

Ligamento utilisant TR controlatéral

Ostéotomie et ligamentoplastie

PLACE DES DIFFERENTS TYPES D'ARTHROPLASTIE DANS LE TRAITEMENT DE L'ARTHROSE DU GENOU

ReconstructionPCL

Reparation ligamentaire et reconstruction des croisés dans la luxation du genou

Résultats tendon rotulien

Technique de reconstruction du ligament croisé antérieur

Techniques pour réduire les sympt post ligamentoplastie

The effects of anterior cruciate ligament reconstruction on tibia ratation during pivoting after descending stairs

Traitement chirurgical des lésions récentes et anciennes du LCA


Girls Generation - Korean