Friday, April 30, 2010

Viêm Đường Hô Hấp Trên Cấp

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Viem_Duong_Ho_Hap_Tren_Cap_446265872.jpg&size=article_medium
Trung bình người trưởng thành có thể bị viêm đường hô hấp trên khoảng 2 - 4 lần mỗi năm và con số này còn cao hơn rất nhiều đối với trẻ em. Theo thống kê được nghiên cứu bởi các tổ chức y tế Hoa Kỳ, mỗi năm trẻ có thể bị viêm đường hô hấp trên cấp tính đến 10 lần.

Tùy theo từng lứa tuổi và cơ địa của trẻ và tác nhân gây bệnh mà bệnh có biểu hiện và mức độ khác nhau.

Viêm đường ho hấp trên và cơ chế lây bệnh

Khi cái nóng gay gắt của mùa hè dần dịu đi bởi những cơn gió nhẹ của mùa thu hay những làn hơi mát lạnh của mùa đông tạo cho bạn một cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu khiến bạn phần nào chủ quan, ít quan tâm đến sức khỏe của bản thân và những thành viên trong gia đình cũng là lúc nhiều dịch bệnh, đặc biệt là viêm đường hô hấp trên có cơ hội phát triển. Chính vì thế, hãy chú ý chăm sóc cho tổ ấm và bé yêu của bạn một cách khoa học trong thời khắc giao mùa này.

Hoạt động của hệ hô hấp


Là một trong những cơ quan trọng yếu quyết định sự tồn tại của cơ thể, hệ hô hấp đảm nhận chức năng xử lý không khí, cung cấp oxy và loại bỏ khí thải giúp duy trì sự sống. Để đảm bảo chức năng này, hệ hô hấp như một cỗ máy hoàn chỉnh hoạt động khép kín gồm nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận có một nhiệm vụ riêng.

Không khí khi hít vào sẽ được các cơ quan thuộc đường hô hấp trên (mũi, các xoang cạnh mũi, hầu họng, thanh quản) lọc sạch, làm ẩm và sưởi ấm trước khi theo khí quản đến phổi (đường hô hấp dưới) rồi theo mạch máu đi khắp cơ thể. Lượng khí thải sẽ theo máu trở về phổi và đi qua đường hô hấp trên để thoát ra môi trường bên ngoài. Do vị trí giải phẫu và chức năng hoạt động nên đường hô hấp trên thường xuyên tiếp xúc với các vi khuẩn và các tác nhân gây bệnh khác.

Viêm đường hô hấp trên là gì?

Viêm đường hô hấp trên là tình trạng nhiễm trùng cấp tính ở đường hô hấp trên do ảnh hưởng của các vi sinh vật gây bệnh. Bệnh thường xảy ra vào thời điểm giao mùa (khoảng tháng 9 đến tháng 3), lúc trời trở lạnh, độ ẩm trong không khí giảm thấp.

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây nên viêm đường hô hấp trên. Trong đa số các trường hợp trẻ mắc bệnh do nhiễm các loại virus như Influenza, Parainfluenza, hợp bào hô hấp (RSV), Adenovirus, Rhinovirus, Enterovirus, Coronavirus…. Đôi khi còn có sự tham gia của các vi khuẩn như phế cầu ( Streptococcus pneumoniae), liên cầu nhóm A ( Streptococcus pyogenes), Hemophilus influenza, B. catarrhalis…

Trẻ bị lây nhiễm bệnh như thế nào?

Trẻ bị nhiễm bệnh khi hít phải dịch tiết có chứa vi khuẩn hay virus do người bệnh bắn ra khi họ ho, hắt hơi, sổ mũi hoặc do bé cầm nắm các vật dụng, đồ chơi nhiễm bẩn bị bám dịch tiết hay có sự hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh.

Bệnh có thể gặp ở bất kỳ trẻ nào và ở nhiều độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên, khả năng mắc bệnh sẽ cao hơn nếu bé sinh sống ở những nơi chật hẹp, đông người, môi trường bị ô nhiễm, điều kiện vệ sinh kém. Trẻ sinh nhẹ cân, thiếu tháng, không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, suy dinh dưỡng, cơ địa suy giảm miễn dịch hay có các bệnh lý mạn tính khác sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những trẻ khác và diễn tiến bệnh thường có khuynh hướng trầm trọng hơn.

Thursday, April 29, 2010

Viêm Đường Hô Hấp

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Viem_Duong_Ho_Hap_917330734.jpg&size=article_medium
Trong đa số các trường hợp, các triệu chứng của viêm đường hô hấp trên thường tự giới hạn trong 1-2 tuần. Tuy nhiên, nếu không được chăm sóc, theo dõi và điều trị đúng mức trẻ có thể bị chảy mủ tai, nghễnh ngãng, nghe kém do bị viêm tai giữa Biến chứng của viêm đường hô hấp trên

Đôi khi sức khỏe và tính mạng của trẻ bị đe dọa nghiêm trọng do những biến chứng như viêm phổi, nghẽn tắc đường thở, nhiễm trùng huyết…

Chăm sóc và chữa bệnh cho trẻ

- Để nhanh chóng hồi phục, trẻ cần phải được chăm sóc và điều trị thích hợp. Nên cho trẻ ăn uống bình thường khi bệnh, tránh kiêng cữ thái quá, cần cho ăn thêm bữa khi trẻ lành bệnh để bổ sung lượng dinh dưỡng thiếu hụt.

- Bên cạnh dùng thuốc giảm sốt thông thường như Acemol, Ibuprofene… thì lau mát được xem là một biện pháp hữu hiệu giúp hạ nhiệt cho bé. Thay vì dùng nước lạnh, hãy dùm khăn nhúng nước ấm để lau người cho bé, nên tập trung lau mát ở trán, hõm nách, khuỷu tay, bẹn.

- Dùng nước muối sinh lý (NaCl 0.9%) nhỏ mũi cho bé và làm thông mũi trước khi cho ăn, cho bú.

- Nếu trẻ ho có thể dùng những bài thuốc an toàn dể kiếm như hoa hồng bạch chưng đường phèn, húng chanh hấp mật ong để làm dịu cơn ho.

- Không phải tất cả các trường hợp đều cần thiết dùng kháng sinh vì vậy hãy cân nhắc khi quyết định sử dụng kháng sinh và chắc rằng bạn đã tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi cho bé uống các loại thuốc này.

- Nếu các triệu chứng không cải thiện hoặc ngày càng xấu đi, trẻ cần phải được theo dõi kỹ và điều trị tích cực hơn. Hãy đưa con bạn đến bệnh viện ngay nếu bé có một trong các dấu hiệu như trẻ mệt hơn, thở nhanh hơn, khó thở hơn, bú kém hoặc không uống được.

Các biện pháp phòng ngừa và tránh lây lan


- Thường xuyên dọn dẹp nhà cửa, giữ nhà cửa luôn thông thoáng, sạch sẽ.

Để bảo đảm cho bé có thể trạng và sức đề kháng tốt cần thực hiện:

- Khi mang thai, mẹ cần có một chế độ ăn hợp lý giàu dinh dưỡng, khám thai định kỳ.

- Nên cho trẻ bú mẹ sớm từ những giờ đầu sau sinh, duy trì sữa mẹ đến khi trẻ được 2 tuổi, cho trẻ ăn dặm đúng cách và đúng thời điểm.

- Bên cạnh chương trình tiêm chủng quốc gia, có thể tư vấn bác sĩ để chích ngừa thêm cho bé một số loại vaccin cần thiết khác.

Phòng tránh lây lan:

- Khi có dịch bệnh nên tránh đưa gia đình đến những nơi đông người, thường xuyên rửa tay và giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ.

Đeo khẩu trang mỗi khi tiếp xúc với người bệnh, rửa tay trước và sau khi chăm sóc người bệnh. Nên cố gắng cách ly trẻ bệnh với trẻ lành à những thành viên khác trong gia đình ít nhất 7 ngày để tránh lây lan.

Bệnh Viêm Đường Hô Hấp

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Benh_Viem_Duong_Ho_Hap_397861654.jpg&size=article_medium
Viêm đường hô hấp là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp bệnh tật ở trẻ em và người lớn. Viêm đường hô hấp trên là loại bệnh cấp tính phổ biến nhất mà các thầy thuốc gia đình phải thǎm khám và nó cũng gây ra nhiều ngày nghỉ việc nhất. Chương này sẽ tổng quan về các nhiễm khuẩn thường gặp của đường hô hấp trên và dưới.

I/ Tiếp cận chuẩn đoán

Biểu mô hô hấp cùng với da và niêm mạc ống tiêu hóa tạo thành bề mặt tiếp giáp chính giữa cơ thể và môi trường bên ngoài. Các bệnh viêm đường hô hấp thường gặp nhiều có lẽ một phần là do đường hô hấp trên được kiến tạo để sưởi ấm và làm ẩm không khí. Môi trường ấm áp và ẩm ướt này là điều kiện tương đối thuận tiện cho sự sinh trưởng của virus và vi khuẩn.

Trong lúc viêm hô hấp là phổ biến thì cơ thể chúng ta thường phải bảo vệ bằng cách khu trú chúng và tự giới hạn chúng. Tuy nhiên, có nhiều biến chứng viêm nhiễm hô hấp cục bộ hoặc hệ thống cần phải được theo dõi, và nếu có thể được thì phải phòng ngừa và điều trị. Vì vậy việc chẩn đoán chính xác và chǎm sóc thích hợp các biểu hiện viêm nhiễm hô hấp là điều quan trọng.

II/ Tiền sử lâm sàng

Đường hô hấp gồm có bề mặt niêm mạc của mũi, các xoang cạnh mũi, họng, vòi nhĩ tai giữa, nắp thanh quản, thanh quản, khí quản, tiêu phế quản và phế nang. Về mặt lâm sàng chúng ta thường phân biệt giữa đường hô hấp trên gồm tất cả các bộ phận hô hấp ở phía trên thanh quản và đường hô hấp dưới gồm thanh quản, khí quản, và các bộ phận của phổi. Mỗi khu vực này khi bị viêm nhiễm đều biểu hiện bằng một hội chứng lâm sàng riêng.

Khi thăm khám bệnh nhân có triệu chứng đường hô hấp, người ta thường có thể xác định được vị trí có vấn đề bệnh lý dựa trên đặc điểm của các triệu chứng. ở bảng 23. 1 có tóm tắt những dấu hiệu và triệu chứng thông thường của bệnh đường hô hấp theo vị trí giải phẫu. Từng triệu chứng phổ biến của bệnh đường hô hấp được thảo luận vắn tắt như ở dưới đây.

Sốt là một triệu chứng không đặc hiệu, tuy nhiên biểu hiện sốt cao và sự tiến triển của nó có thể gợi ý cho việc chẩn đoán. Ví dụ, viêm hô hấp trên ("cảm") thường gây sốt nhẹ hoặc không sốt. Một người bệnh bị viêm mũi và sốt nhẹ, sau vài ngày, sốt trở nên cao hơn thì có khả nǎng người đó bị nhiễm vi khuẩn thứ phát.

Viêm mũi là biểu hiện bệnh của mũi hoặc xoang cạnh mũi. Bệnh có thể do hoặc không do nhiễm khuẩn vì biểu mô hô hấp ở mũi sinh ra niêm dịch để đáp ứng lại một chấn thương bất kỳ. Do vậy, viêm mũi dị ứng (một dị ứng do dị nguyên trong không khí), dị vật ở mũi, cảm lạnh và viêm xoang đều có triệu chứng viêm mũi. Một số thầy thuốc phân biệt giữa viêm mũi chảy mủ và viêm mũi chảy niêm dịch, cho rằng chảy mủ có nghĩa là bệnh sinh do vi khuẩn. Tuy nhiên, sự khái quát hóa này không phải lúc nào cũng đúng với thực tế. Nó là điển hình đối với trường hợp cảm lạnh : bắt đầu bằng viêm mũi xuất tiết niêm dịch, rồi dịch tiết trở nên đặc hơn sau một ít ngày.

Đau đầu có thể tǎng lên do nhiều cấu trúc không thuộc về hô hấp. Đau đầu vùng trán, đặc biệt đau tǎng lên khi cúi xuống, làm ta nghĩ đến viêm xoang. Đau ở mặt là triệu chứng khác của bệnh viêm xoang cạnh mũi, bởi vì các phần của xoang và da mặt đều do dây thần kinh tam thoa chi phối. Đau rǎng hàm trên có thể là do viêm nhiễm xoang hàm vì dây thần kinh xoang trên đi qua xoang này

Đau tai có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó một số khởi nguồn là đường hô hấp. Trong thực tế ở phòng khám bệnh, đau tai cấp tính là phổ biến và thường phải chẩn đoán phân biệt giữa viêm tai ngoài và viêm tai giữa. Như sẽ bàn sau đây, khám thực thể thường đem lại chìa khóa để phân biệt giữa 2 nguyên nhân đau tai thông thường này.

Đau tai cũng có thể là cáo từ nơi khác lan truyền đến. Điều này không phải là bất thường đối với những bệnh nhân viêm họng đưa tới đau ở tai. Lý do vì họng và các thành phần của tai giữa và tai ngoài đều cùng do dây thần kinh X chi phối. Các bệnh khác có thể biểu hiện như đau tai gồm có viêm các hạch lympho vùng trước tai hoặc vùng sau tai (thường thứ phát sau khi bị nhiễm khuẩn da ở đầu hoặc mặt), viêm tuyến nước bọt và viêm khớp thái dương hàm.

Ho là triệu chứng cǎn bản của bệnh đường hô hấp dưới (xem bảng 23.1). Bất kỳ một tổn thương viêm nào của khí quản, phế quản, tiểu phế quản hoặc phế nang đều có thể gây ra ho. Một phần, vì ho là cơ chế của cơ thể để làm sạch các chất tiết ra từ cây khí quản, và viêm nhiễm đường hô hấp dưới thường tǎng sản sinh niêm dịch (đờm). Ho cũng có thể xảy ra trong trường hợp không sinh ra đờm, có khả nǎng vì phản xạ ho được hoạt hoá nhờ bất kỳ kích thích nào ở khí quản hoặc phế quản. Cúm, bệnh viêm do Mycoplasma và viêm do virus đều có đặc điểm ho không xuất tiết (ho "khan"). Mức độ ho ít phản ánh tình trạng nặng của bệnh. Nhiều loại viêm hô hấp do virus gây ho nặng và dai dẳng, ngay cả lúc viêm nhiễm đã giảm nhiều.

Khó thở thường là một dấu hiệu về trao đổi khí ở phổi (và hậu quả là oxy huyết) không đủ. Những rối loạn về tim và hô hấp là những nguyên nhân thông thường nhất gây khó thở. Một số viêm nhiễm hô hấp (ví dụ viêm phế quản) không gây khó thở vì sự trao đổi khí ở phổi vẫn giữ được bình thường. Quy luật chung là, khó thở càng nặng thì bệnh càng nặng.

Khàn giọng thường chỉ cho thấy có sự thắt hẹp đường thở ở vùng thanh quản. Điển hình là viêm các dây thanh đới khi bị viêm thanh quản. ở những trẻ nhỏ, thắt hẹp đường thở như vậy sẽ dẫn đến tiếng thở rít.

Đau ngực không phải bao giờ cũng do viêm nhiễm hô hấp. Ho có thể đưa đến đau ngực do cǎng hoặc thương tích các cơ và xương của thành ngực, hoặc do kích thích khí quản hay phế quản bị viêm tấy. Đau ngực màng phổi (Pleuritic) có thể do viêm phổi sát cạnh màng phổi. Tuy nhiên, nói chung khi chẩn đoán phân biệt đau ngực thường phải mở rộng ra cả ngoài phạm vi các bệnh hô hấp.

Wednesday, April 28, 2010

Viêm Đường Hô Hấp Ở Trẻ

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Viem_Duong_Ho_Hap_O_Tre_616523566.jpg&size=article_medium

Ở những bệnh nhân mắc bệnh đường hô hấp, khám thực thể một cách cẩn thận thường sẽ đạt được chẩn đoán. Vì vậy các sinh viên y học gia đình phải là những người có kỹ năng khéo léo trong khi khám thực thể hệ thống hô hấp
KHÁM THỰC THỂ

. Các yếu tố khám thực thể gồm có:


- Khả năng giải thích những biểu hiện nhìn thấy ở bệnh nhân và các triệu chứng nguy hiểm.

- Gõ nhẹ và soi qua các xoang cạnh mũi.

- Quan sát hốc mũi bằng cách dùng một phễu soi tai (otoscope).

- Khám miệng và họng.

- Khám thực thể tai nhờ dùng phễu soi tai và bóng bơm.

- Một kỹ thuật soi thanh quản tại chỗ.

- Sờ nắn các bộ phận ở trước cổ.

- Nhìn, sờ, gõ và nghe lồng ngực.

Những dấu hiệu thực thể phát hiện được là chìa khóa để quyết định những điều phân vân thường gặp trong chẩn đoán, bao gồm cả các nhiễm khuẩn hô hấp. Cụ thể là:

* Phân biệt viêm tai giữa với viêm tai ngoài

Khi một bệnh nhân có biểu hiện đau tai, khám thực thể thường cung cấp cǎn cứ để chẩn đoán. Một chẩn đoán viêm tai ngoài thường dựa vào: (a) nhạy cảm đau của ống lai đối với sự di động của vành tai hoặc đưa nhẹ phễu soi tai mỏ vịt vào trong tai; (b) ống tai ngoài bị viêm, thường phủ bởi nhiều ráy tai, bở, dễ vụn.

Chẩn đoán viêm tai giữa nếu thấy tai ngoài bình thường và màng nhĩ thì sưng, đỏ, có lô thủng hoặc mất nón sáng.

* Phân biệt viêm xoang với cảm lạnh

Bệnh nhân thường đến với thầy thuốc chǎm sóc sức khỏe ban đầu bàng triệu chứng viêm mũi và sốt nhẹ, để xem có bị "viêm xoang" không.

Khám thực thể có thể xác định được bệnh viêm xoang cạnh mũi: (a) viêm xoang trán và xoang hàm trên thường có phản ứng nhạy cảm đau khi gõ lên vùng xoang, đôi khi có phù nề da ở vùng xoang: (b) đôi khi, có thể thấy chảy mủ ở bên mũi tương ứng với chảy mủ của một hay nhiều xoang (ví dụ, giữa xương cuốn mũi trên và xương cuốn mũi giữa). * Phân biệt viêm phế quản với phổi

Hai bệnh viêm đường hô hấp dưới phổ biến nhất là viêm phế quản và viêm phổi có thể phân biệt được dễ dàng dựa trên khám xét thực thể.

Ho, cảm giác khó ở và sốt là những triệu chứng thông thường của cả 2 bệnh. Trong những trường hợp viêm phế quản thường thấy bệnh nhân không sốt hoặc sốt nhẹ, nhịp thở bình thường (trừ khi bệnh nhân có bệnh phổi mạn tính), nghe phổi có tiếng thổi thô ráp, khò khè. Trong trường hợp viêm phổi, khó thở và nhịp thở nhanh là triệu chứng phổ biến, bệnh nhân thường sốt vừa phải hoặc sốt cao, có thể nghe thấy tiếng ran khu trú ở thì thở vào, đôi khi gõ lên vùng phổi bị viêm có tiếng đục.

XÉT NGHIỆM VÀ CHỤP X-QUANG

Trong thực tế khám chữa bệnh ở gia đình, các xét nghiệm được sử dụng một cách tiết kiệm trong khi đánh giá viêm hô hấp, bởi vì chúng thường không hữu ích lắm. Nuôi cấy vi khuẩn là không thực tế, chiếu X-quang thường không cần thiết và điều trị theo kinh nghiệm thường là tốt nhất về chí phí - hiệu quả.

Xét nghiệm (test) phổ biến nhất là xét nghiệm nhanh liên cầu khuẩn (xem chương 24), nó cho phép xác định loại viêm họng do liên cầu khuẩn. Đếm bạch cầu thường được sử dụng để phục vụ chẩn đoán xác định về mặt lâm sàng khả nǎng sình bệnh là do vi khuẩn hay virus. ở những bệnh nhân nghi viêm phổi, người ta thường làm xét nghiệm vi khuẩn bắt màu Gram ở trong đờm để xác định vi khuẩn có khả nǎng gây bệnh. Tuy nhiên, nhiều trường hợp nhiễm khuẩn được điều trị theo kinh nghiệm dựa trên cơ sở dịch tễ học và bệnh cảnh lâm sàng.

Chiếu chụp X-quang là phần bổ sung quan trọng. Chiếu chụp phổi đôi khi còn phát hiện được cả nhưng viêm phổi (ví dụ Mycoplasma) mà khám xét thực thể không thấy có triệu chứng gì. Vì lý do này mà đối với tất cả bệnh nhân có hội chứng hô hấp phần dưới thấp mà bạn nghi ngờ nhưng không thể chẩn đoán lâm sàng là viêm phổi thì đều phải chụp X-quang. Một tình trạng phổ biến khác vẫn phải chụp X-quang phổi là loại trừ những bệnh không rõ ràng ở những bệnh nhân bị ho dai dẳng (ví dụ do một dị vật, một khối u trung thất hoặc do thâm nhiễm phổi).

Chụp phim X-quang các xoang cạnh mũi có thể giúp cho việc chẩn đoán viêm xoang mạn tính. Viêm xoang cấp tính thường được chẩn đoán dựa trên cơ sở bệnh sử và khám thực thể. Đôi khi cũng phải chụp X-quang cổ bên bởi vì nó giúp phân biệt phù thanh quản với viêm nắp thanh quản ở những trẻ em bị sốt và có thở rít.

Phát Hiện Sớm Viêm Tai Giữa Cấp Ở Trẻ Nhỏ

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Phat_Hien_Som_Viem_Tai_Giua_Cap_O_Tre_Nho_164782335.jpg&size=article_medium

Viêm tai giữa cấp là bệnh rất thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm hoặc để lại di chứng nặng nề, rất khó khắc phục, ảnh hưởng đến sức nghe của trẻ. Việc phát hiện sớm, kịp thời, đúng đóng vai trò quyết định trong tiên lượng bệnh, phòng ngừa biến chứng và các hậu quả lâu dài đối với trẻ.

Viêm tai giữa cấp mủ là một quá trình viêm của niêm mạc tại giữa, chủ yếu có nguồn gốc từ viêm mũi họng, nguyên nhân là do vi khuẩn. Viêm tai giữa cấp mủ ở trẻ em có thể gây các biến chứng nguy hiểm như: Viêm xương chũm cấp, liệt mặt ngoại biên, viêm màng não...

Bệnh thường xuất hiện sau vài ngày có viêm mũi họng (sốt, ho, chảy mũi, có thể bị tiêu chảy). đau tai là một trong những triệu chứng quan trọng của bệnh viêm tai giữa. Với những trẻ đã biết nói trẻ sẽ tự nói với bố mẹ là bị đau tai. Đau tai có đặc điểm: đau theo nhịp mạch đập, lan ra sau tai, tới vùng thái dương hoặc xuống răng, cơn đau không kéo dài nhưng hay tái phát, có thể kèm theo dấu hiệu ù tai hoặc nghe kém. Với trẻ chưa biết nói, chúng ta phát hiện bằng cách quan sát trẻ xem trẻ có dùng tay kéo nhiều bên tai bệnh, xoa bên tai đó, hay lúc lắc đầu hoặc khóc thét khi bị chạm vào tai đau. Đau tai cấp thường đau dữ dội đột ngột, ù tai, trẻ quấy khóc, bứt tai, sốt nếu màng nhĩ bị thủng, đau sẽ giảm và chảy mủ tai.

Những trẻ có biểu hiện trên cần được đưa ngay đến thầy thuốc tai - mũi - họng để khám và xử trí kịp thời.

Viêm tai giữa cấp có thể tái phát và được coi là tái phát khi có ít nhất 2 đợt viêm tai giữa cấp ở trẻ dưới 1 tuổi, hoặc 3 đợt viêm tai giữa cấp trong vòng 6 tháng với trẻ trên 1 tuổi. Nguy cơ viêm tai giữa cấp tái phát ở bé trai cao hơn bé gái, trẻ có cơ địa dị ứng, suy dinh dưỡng, những bé đi nhà trẻ có đợt viêm tai giữa cấp đầu tiên dưới 6 tháng tuổi, có tiền sử gia đình bị viêm tai, có trào ngược dạ dày thực quản...

Nếu viêm tai giữa cấp giai đoạn đầu bị bỏ sót, bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn ứ mủ hoặc vỡ mủ. Các giai đoạn này việc điều trị trở nên khó khăn và phức tạp hơn nhiều; đồng thời dễ để lại di chứng thủng màng nhĩ, nghe kém ảnh hưởng lớn đến quá trình học tập và phát triển tiếng nói cũng như trí tuệ của trẻ sau này.

Thai ngoài tử cung

Thai ngoài tử cung

Thai ngoài tử cung là tình trạng thai phát triển bên ngoài tử cung, xảy ra khi trứng đã được thụ tinh từ buồng trứng không làm tổ vào đúng vị trí bình thường ở tử cung mà thay vào đó trứng sẽ phát triển ở một nơi khác trong ổ bụng. Quá trình thụ thai này tạo ra một sản phẩm bất bình thường và không thể phát triển thành thai nhi.

  • Vị trí thường gặp của thai ngoài tử cung là ở một trong 2 vòi trứng. Đây là nơi vận chuyển trứng từ buồng trứng đến tử cung. Thai ngoài tử cung cũng có thể được tìm thấy ở bên ngoài tử cung, ở buồng trứng, hoặc gắn vào ruột.

  • Những biến chứng nguy hiểm nhất của thai ngoài tử cung là xuất huyết nội (chảy máu bên trong ổ bụng). Trong trường hợp thai ngòai tử cung nằm ở vòi trứng, khi các thành phần của thai vẫn tiếp tục phát triển bên trong vòi trứng sẽ làm nó căng lên và cuối cùng sẽ vỡ ra. Điều này rất nguy hiểm vì có một động mạch lớn đi bên ngoài mỗi vòi trứng. Nếu động mạch này bị vỡ thì bệnh nhân sẽ bị chảy máu rất trầm trọng.

  • Thai ngỏai tử cung thường được phát hiện ở tuần lễ thứ 5 – 10 của thai kỳ.

NGUYÊN NHÂN

Thai ngòai tử cung xảy ra khi trứng được thụ tinh đậu thai ở vòi trứng thay vì tiếp tục đi xuống tới tử cung vốn phải là nơi ở thật sự của nó. Trứng sẽ bị mắc kẹt lại khi vòi trứng bị tổn thương, có sẹo hoặc bị biến dạng. Những yếu tố làm tăng nguy cơ có thai ngoài tử cung bao gồm:

  • Vòi trứng đã từng bị nhiễm trùng trước đây (viêm vòi trứng) như viêm phần phụ, chlamydia và lậu.

  • Trước đây có phẫu thuật vùng bụng, đặc biệt là liên quan đến vòi trứng, buồng trứng, tử cung, vùng bụng dưới hoặc ruột. (phẫu thuật vùng xung quanh cổ tử cung không phải là yếu tố nguy cơ)

  • Dùng thuốc tránh thai ở thời điểm thụ tinh.

  • Đã từng bị thai ngòai tử cung ở vòi trứng

  • Sử dụng vòng tránh thai không làm gia tăng nguy cơ bị thai ngoài tử cung. Tuy nhiên, một thai kỳ bình thường thì thường không có đặt vòng tránh thai, do đó nếu như một phụ nữ mang thai mà lại đang dùng vòng tránh thai thì có nhiều khả năng thai không nằm bên trong tử cung.

TRIỆU CHỨNG

Triệu chứng của thai ngoài tử cung cũng giống như sẩy thai hoặc viêm phần phụ:

  • Triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng, đau vùng chậu và xuất huyết âm đạo.

  • Thai ngoài tử cung vỡ là một trường hợp cấp cứu thật sự. Nếu nghi ngờ bị thai ngoài tử cung vỡ, hãy gọi xe cấp cứu ngay lập tức. Những triệu chứng thường gặp của thai ngoài tử cung vỡ bao gồm:

  • Hoa mắt, chóng mặt, ngất xỉu

  • Da xanh, nhợt nhạt, lạnh.

  • Đổ mồ hôi

  • Mạch nhanh (trên 100 lần/phút)

  • Đau bụng hoặc đau vùng chậu dữ dội đến mức bạn không thể đứng lên được.

KHI NÀO CẦN ĐẾN SỰ CAN THIỆP Y KHOA

Nếu bạn có thai và cảm thấy đau bụng một cách bất thường hoặc chảy máu âm đạo, hãy đi khám bác sĩ ngay. Nếu bạn không thể liên lạc được với bác sĩ hoặc những triệu chứng trở nên nặng hơn bạn hãy đến phòng cấp cứu của bệnh viện ngay.

Bạn phải đi đến phòng cấp cứu bệnh viện ngay nếu như có những triệu chứng sau:

  • Đau bụng dữ dội

  • Ra huyết âm đạo nhiều

  • Ngất xỉu

  • Chóng mặt khi đứng dậy

  • Không thể liên lạc được với bác sĩ

KHÁM & XÉT NGHIỆM

Bác sĩ của bạn hay các bác sĩ ở phòng cấp cứu có thể sẽ cần phải xác định xem bạn có thật sự mang thai hay không nếu điều này chưa được thực hiện trước đó.

  • Nếu bạn bị đau nặng nề hoặc chảy máu âm đạo nhiều, cần phải thiết lập đường truyền tĩnh mạch, cho thở oxy và xét nghiệm máu.

  • Bác sĩ sẽ khám khung chậu của bạn.

  • Có thể phải siêu âm vùng chậu để xác định vị trí thai. Siêu âm là một phương tiện chẩn đoán hình ảnh sử dụng sóng âm, nó không gây đau đớn và được thực hiện bằng cách để đầu dò được kết nối với màn hình TV lên phần bụng dưới. Có một dạng siêu âm khác có khả năng phát hiện bệnh tốt hơn là siêu âm qua đường âm đạo (một loại đầu dò đặc biệt sẽ được đưa vào bên trong âm đạo của bệnh nhân).

  • Nếu bệnh nhân bị mất máu đến mức đe dọa mạng sống, có thể cần phải đưa đến phòng mổ ngay lập tức.

  • Đôi khi, thai nhi chưa phát triển đủ lớn để có thể được nhìn thấy trên siêu âm. Nếu lượng máu chảy và mức độ của cơn đau không nhiều, bác sĩ có thể khuyên bạn nên thực hiện một xét nghiệm máu chuyên biệt mỗi 2-3 ngày để theo dõi thai kỳ cho đến khi nó phát triển đủ lớn để có thể nhìn thấy được. Và khi đó có thể sẽ phải siêu âm lại lần nữa để chắc chắn thai đang ở trong tử cung và phát triển bình thường.

ĐIỀU TRỊ

Thai ngoài tử cung là một thai kỳ bất thường và không phát triển được thành một thai nhi và nó có thể đe dọa mạng sống, do đó cần phải được điều trị. Bác sĩ sẽ bàn luận xem phương pháp điều trị nào là tốt nhất.

Phương pháp điều trị phụ thuộc vào kích thước và vị trí của thai ngoài tử cung

Thuốc

Nếu thai ngoài tử cung nằm ở vòi trứng và có kích thước nhỏ, bạn có thể được cho thuốc để ngăn sự phát triển của thai và cho phép cơ thể tống xuất nó ra ngoài. Hầu hết những phụ nữ được điều trị theo phương pháp này đều bị đau bụng nhẹ đặc biệt là ở những ngày đầu và xuất huyết âm đạo với lượng máu nhiều hơn có kinh một chút. Bạn sẽ được thử máu mỗi 3 ngày để chắc chắn rằng thuốc có hiệu quả.

Phẫu thuật

Nếu thai ngoài tử cung lớn hoặc nằm ngoài vòi trứng, hoặc nếu có những dấu hiệu chảy máu nhiều bên trong ổ bụng, chắc chắn rằng bạn cần phải phẫu thuật. Loại phẫu thuật thường được thực hiện là phẫu thuật nội soi (rạch những đường nhỏ trên bụng để lấy thai ra) nhưng thỉnh thoảng cũng cần phải rạch những đường lớn. Trong trường hợp thai ở vòi trứng, nếu vòi trứng không vỡ thì đôi khi người ta có thể lấy thai và giữ nguyên vòi trứng. Tuy nhiên thường trong trường hợp này vòi trứng đã bị tổn thương rất trầm trọng do đó cần phải bị cắt bỏ.

CÁC BƯỚC TIẾP THEO

Dù được đìều trị bằng thuốc hay phẫu thuật trong lúc cấp cứu, bạn đều cần phải tái khám thường xuyên. Ban sẽ được khuyên làm những xét nghiệm máu để chắc chắn rằng thai ngoài tử cung đã được điều trị hết hoàn toàn.

Phòng ngừa

Cách phòng ngừa thai ngoài tử cung tốt nhất là làm giảm các yếu tố nguy cơ

  • Nếu bạn được chẩn đoán là viêm phần phụ, hãy uống kháng sinh theo toa của bác sĩ cho đến khi hết bệnh và tiếp tục tái khám để bảo đảm rằng mình đã được chữa khỏi.

  • Tránh không mắc bệnh lậu, chlamydia và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác bằng cách sử dụng màng ngăn hay mũ trùm cổ tử cung hoặc yêu cầu bạn tình sử dụng bao cao su.

  • Nếu bạn dự định có thai và đang sử dụng vòng tránh thai, hãy trao đổi với bác sĩ về điều này.

  • Phẫu thuật ở hệ sinh dục, ruột hoặc vùng bụng dưới có thể để lại sẹo, làm tăng nguy cơ có thai ngoài tử cung.

Tiên lượng

Khả năng bình phục sau thai ngoài tử cung rất tốt nếu được phát hiện và điều trị sớm. Bị thai ngoài tử cung ở lần đầu có thể làm tăng nguy cơ tái diễn trong những lần mang thai sau. Bạn hãy nói với bác sĩ về ý định của bạn về những lần sinh con trong tương lai và hãy hỏi về những nguy cơ có thai ngoài tử cung trong những lần mang thai kế tiếp. Nếu bạn tiếp tục mang thai, hãy đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt để có thể thực hiện các xét nghiệm cần thiết nhằm khẳng định chắc chắn rằng thai của bạn đang nằm bên trong tử cung.

Theo emedicinehealth – Y học NET dịch

Tuesday, April 27, 2010

Nhiễm Khuẩn Hô Hấp Hay Gặp Ở Trẻ Và Cách Xử Trí

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Nhiem_Khuan_Ho_Hap_Hay_Gap_O_Tre_Va_Cach_Xu_Tri_936835080.jpg&size=article_medium
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm trên thế giới có khoảng 12,9 triệu trẻ em tử vong, trong đó có 4,3 triệu trẻ tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) mà 95% là ở các nước đang phát triển

Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi là nhóm trẻ dễ bị NKHHCT nhất. Ngoài thể phổ biến hay gặp nhất là viêm mũi họng cấp tính, trẻ nhỏ thường bị các thể nặng như: viêm nắp thanh quản, viêm thanh quản, viêm tiểu phế quản và viêm phế quản - phổi.

Viêm mũi họng cấp tính

Đây là thể bệnh thường gặp nhất, chiếm khoảng 50-70% số trẻ bị bệnh. Vì trẻ nhỏ chỉ thở bằng mũi (trong khi trẻ lớn và người lớn thở cả qua mũi và miệng) nên chỉ cần nghẹt mũi đã gây triệu chứng khó thở nặng. Biểu hiện chủ yếu của thể bệnh này là sốt nhẹ hoặc không, kèm theo viêm long hô hấp (ho, chảy nước mũi), quấy khóc, khó bú, khó ngủ và thường thở há miệng do tắc đường thở chính là mũi. Trẻ có thể thở nhanh hơn bình thường, đôi khi co rút lồng ngực, đầu gật gù theo nhịp thở nhưng ít khi bị tím tái. Khám thường thấy các khoang mũi hẹp hoặc tắc hẳn do viêm phù nề, niêm mạc mũi đỏ rực, nhiều dịch xuất tiết trong hoặc đục như mủ, đôi khi quánh dính hoặc khô cứng thành cục dày bịt kín 1 hoặc cả 2 bên lỗ mũi. Thành trước, thành sau họng và 2 tuyến hạnh nhân khẩu cái (amidan) cũng thường bị viêm phù nề đỏ rực, nhưng ít khi có mủ hoặc giả mạc như viêm họng ở trẻ lớn và người lớn.

Nguyên nhân chủ yếu gây viêm mũi họng cấp ở trẻ nhỏ là các vi khuẩn, virus đường hô hấp; hàng đầu là vi khuẩn hợp bào đường hô hấp (>80%), rồi đến rhinovirus, adenovirus và các virus cúm A và B. Chính vì vậy, biện pháp điều trị chủ yếu là hỗ trợ, làm thông mũi họng bằng vệ sinh, rửa sạch đường hô hấp trên bằng cách nhỏ các dung dịch sát khuẩn như nước muối sinh lý (dạng giọt hay dạng xịt khác nhau, các thuốc sát khuẩn ít kích thích như argyron 1-2%, ngày 3-4 lần; hút sạch dịch mũi. Có thể dùng thuốc chống phù nề niêm mạc đường mũi họng loại gây co mạch nhẹ (nồng độ thấp) như otilin hay otrivin nồng độ 0,05% dành cho trẻ em. Thời gian dùng thuốc co mạch thường không quá 3-5 ngày. Chú ý không dùng kéo dài, không dùng loại thuốc co mạch có nồng độ cao của người lớn để nhỏ mũi cho trẻ em vì có thể gây tai biến nặng như co giật, hoại tử niêm mạc mũi.

Viêm nắp thanh quản cấp

Đây là thể bệnh ít gặp hơn so với viêm mũi họng cấp tính nhưng rất nguy hiểm, vì có thể gây tử vong nhanh chóng nếu không phát hiện sớm và chữa trị cẩn thận.

Bệnh chủ yếu do một loại vi khuẩn có tên là haemophylus influenzae gây nên viêm cấp tính phù nề nắp thanh quản, làm lấp kín lối vào của luồng khí thông thường vào phổi qua thanh quản, gây ngạt từ vừa đến nặng tùy theo mức độ phù nề của nắp thanh quản. Trẻ thường không ho nhưng sốt rất cao, vật vã kích thích, bỏ bú và chảy nhiều đàm nhớt do đau họng không nuốt được. Trẻ thường không chịu nằm vì khi nằm, nắp thanh thiệt đóng kín đường thở, nên trẻ thường chỉ ngồi (kể cả khi ngủ) để dễ thở. Hạch dưới hàm thường sưng to và đau cả 2 bên. Trẻ chống đối khi dùng đè lưỡi khám họng. Nếu cố tình đè vào vùng sau lưỡi có thể gây ngừng thở đột ngột do đau và do phản xạ cường phó giao cảm ở những bệnh nhi này. Bệnh nhi cần được các thầy thuốc có kinh nghiệm khám và điều trị tại bệnh viện. Thường trẻ phải thở máy và được tiêm kháng sinh đường tĩnh mạch liều cao từ 5-7 ngày.
Viêm thanh quản cấp

Bệnh gặp khá phổ biến ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi, do virus đường hô hấp gây viêm phù nề cấp tính vùng thanh quản (2 dây thanh đới và vùng lân cận) làm chít hẹp hoặc tắc hẳn đường ra – vào phổi của luồng không khí. Bệnh thường xảy ra rất đột ngột về đêm, sau vài giờ viêm long đường hô hấp trên. Khởi đầu trẻ ho nhiều và tiếng ho “ông ổng”, khóc khàn. Sau một vài giờ hay ngắn hơn, trẻ đột nhiên mất tiếng, mất ho, xuất hiện khó thở thanh quản cấp tính (khó thở chậm, khó thở vào, thở ngửa đầu ra sau, co kéo các cơ hô hấp phụ). Bệnh cảnh rất nguy kịch và trẻ có thể ngừng thở nhanh chóng sau một thời gian gắng sức dữ dội để thở nhưng thất bại. Cần đưa ngay trẻ có ho “ông ổng” và thở co kéo nặng đến bệnh viện để kịp thời cứu chữa. Chậm trễ trong chốc lát có thể trẻ tử vong ngay trước mắt người nhà và thầy thuốc. Việc điều trị khi trẻ đến viện sớm có thể rất đơn giản bằng khí dung các thuốc co mạch mạnh như adrenalin và các chế phẩm corticoid tiêm tĩnh mạch và khí dung. Khi trẻ đến muộn, hiện tượng tắt thở đã nặng, việc điều trị trở nên phức tạp, chủ yếu là mở khí quản cấp cứu, vì thanh quản phù nề nặng, không thể đưa ống nội khí quản qua để cho trẻ thở máy được nữa.

Các nhiễm khuẩn cấp tính tại phổi

Viêm tiểu phế quản


Đây là bệnh lý nặng, thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, đặc biệt trẻ dưới 6 tháng, trẻ trai và trẻ bụ bẫm thường hay bị nặng do đường thở hẹp tương đối so với trẻ khác. Bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng chủ yếu vào mùa lạnh, khi thay đổi thời tiết. Khởi đầu giống viêm mũi họng cấp tính, ít khi có sốt cao, nhưng sau 2 - 3 ngày, trẻ trở nên nặng: thở nhanh, co rút lồng ngực khi thở, thở khò khè, bỏ ăn, kích thích vật vã, khó ngủ và đặc biệt là ho cơn kéo dài gây khó thở và nôn trớ. Khám phổi có các biểu hiện ứ khí phổi: lồng ngực căng, khoang liên sườn giãn rộng, gõ trong, rì rào phế nang giảm do tắc nghẽn nặng đường thở, đặc biệt là khi thở ra rất khó khăn nên trẻ thường phải cố gắng để đẩy khí ra khỏi phổi làm thì thở ra kéo rất dài, nhiều ran ngáy, ran rít và cả ran ẩm khắp 2 bên phổi. Bệnh thường diễn biến nặng dễ gây tử vong trong 1 – 2 tuần đầu, nhưng ho và khò khè có thể kéo dài vài tuần đến vài tháng gây cản trở giấc ngủ, khó ăn, nôn dẫn đến suy dinh dưỡng và nhất là bội nhiễm vi khuẩn tại phổi. Trẻ cần được nhập viện vì việc điều trị thường gặp nhiều khó khăn do kháng sinh không có tác dụng, trừ khi bội nhiễm vi khuẩn. Chủ yếu là điều trị hỗ trợ làm thông đường hô hấp, đặc biệt là làm thông mũi họng và tạo điều kiện để trẻ ho có hiệu quả (ho mạnh, đờm loãng, sau vài tiếng ho đã tống được đờm dãi gây tắc ra khỏi đường thở), bằng nuôi dưỡng tốt, đủ dịch, dùng thuốc long đờm. Đặc biệt chú ý không dùng các thuốc giảm ho làm mất hiệu quả tống đờm (gây ngủ, gây quánh đờm, gây ức chế trung tâm thở) như các chế phẩm có kháng histamin (phenergan, theralen) vì có thể gây tử vong nhanh chóng. Khi trẻ khó thở, cần cho thở oxy sớm và đúng cách.

Viêm phế quản phổi

Đây là bệnh viêm phổi phổ biến nhất ở trẻ em dưới 3 tuổi. Bệnh cảnh gần giống như viêm tiểu phế quản, nhưng nguyên nhân thường do các vi khuẩn phổ biến gây viêm đường hô hấp như: phế cầu, haemophylus influenzea, braxella catarhalis, liên cầu và tụ cầu. Trẻ thường có sốt, có thể sốt cao, dịch tiết mũi họng màu xanh hoặc đục như mủ, thở nhanh, khò khè giống viêm tiểu phế quản, nhưng ít có hiện tượng tắc nghẽn hơn nên thường khó thở cả thì thở ra và thở vào. Nghe phổi có thể có ít ran ngáy, ran rít, nhưng chủ yếu là nhiều ran ẩm nhỏ và vừa hạt khắp 2 bên phổi. Hình ảnh X – quang phổi thấy nhiều chấm nốt mờ rải rác 2 bên phổi, tập trung nhiều ở phía gần tim. Xét nghiệm máu thấy có các biểu hiện viêm cấp tính của cơ thể như: tăng số lượng bạch cầu và tăng tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính, protein C phản ứng cấp (CRP: C reactive protein) tăng cao, pro-calcitonin tăng cao. Trẻ cần được điều trị tại bệnh viện. Ngoài các biện pháp không đặc hiệu như trong viêm tiểu phế quản, sử dụng kháng sinh thích hợp có tác dụng điều trị tốt, vì có thể tiêu diệt được nguyên nhân gây bệnh là các vi khuẩn.

Monday, April 26, 2010

Viêm Xoang - Căn Bệnh Khó Chịu Của Trẻ Em

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Viem_Xoang_Can_Benh_Kho_Chiu_Cua_Tre_Em_939521443.jpg&size=article_medium
Cùng mắc bệnh viêm xoang, nhưng những gì mà trẻ chịu đựng khác hẳn người lớn, vì thế nếu không tìm hiểu kỹ, đôi lúc chúng ta sẽ “nghi oan” mỗi khi trẻ mè nheo, khó chịu. Đó là chưa kể những biến chứng của viêm xoang ở trẻ bao giờ cũng nặng hơn ở người lớn. Viêm xoang cấp tính: trẻ có thể tử vong

Cũng như một số bộ phận khác của cơ thể, các xoang mặt chưa trưởng thành hết khi trẻ được sinh ra. Cho đến khi trưởng thành, các xoang này vẫn tiếp tục phát triển. Có thể hình dung, ở trẻ sơ sinh, xoang hàm rất bé, chỉ là một tổ chức xương xốp mong manh, vì thế tình trạng viêm nhiễm rất dễ xuất hiện.

Lúc này, đứng trước các triệu chứng điển hình, rất ít bác sĩ có thể đoán biết được đó là viêm xoang mặt cấp tính, mà chỉ nghĩ tới bệnh viêm tủy xương hàm trên cấp tính hoặc viêm xoang sàng cấp tính mà thôi. Chính vì thế, việc điều trị thường không đúng với tính chất của bệnh.

Khi bị viêm tủy xương hàm trên cấp tính, trẻ thường tắc ngạt mũi kèm theo chảy mủ, xương hàm trên bị sưng tấy, nóng đỏ và rất đau. Trẻ có thể bị sốt cao, mệt mỏi, quấy khóc, biếng ăn…

Đã có một số trẻ bị tử vong chỉ vì không được xử lý tốt khi xuất hiện tình trạng nhiễm độc tại chỗ và nuốt phải dịch mủ của vùng tổn thương. Đối với những trường hợp này, cách điều trị tốt nhất là dùng kháng sinh phổ rộng kết hợp với thuốc chống viêm; nếu đã thành ổ mủ thì phải chích rạch dẫn lưu hoặc nếu đã có lỗ rò thì mở rộng lỗ rò.

Viêm xoang sàng cấp ở trẻ em có đặc điểm là hoại tử rất nhanh. Trẻ có thể bị viêm màng phổi mủ, sốt cao trên 39oC. Khi mắc bệnh này, các triệu chứng của hốc mắt cũng xuất hiện sớm như phù nề mi dưới, vùng rễ mũi bị sưng phồng và rất đau, ngạt tắc mũi và chảy mũi lẫn mủ. ở trẻ đang bú, hay gặp nhất bệnh viêm mũi do biến chứng của viêm xoang sàng, ở trẻ lớn hơn thường gặp viêm xoang sàng và xoang trán, có thể lan xuống cả xoang hàm vì ở trẻ lớn, xoang hàm đã phát triển khá rộng.

Với những trường hợp này, việc điều trị chủ yếu là dùng thuốc kháng sinh phối hợp với thuốc chống viêm, nếu ở góc trong của mắt đã hình thành túi mủ thì phải chích rạch dẫn lưu. Nếu cả xoang trán cũng bị thì phải mở thông xoang trán với xoang sàng trước nhưng nên để sau một thời gian.

Viêm xoang mạn tính: rất dễ nhầm lẫn

Các bậc cha mẹ rất dễ nhầm tình trạng viêm xoang mạn tính của con mình với bệnh viêm mũi họng mạn tính - bệnh có liên quan đến tình trạng viêm nhiễm do thiểu năng miễn dịch của đường thở trên hoặc mẫn cảm với dị ứng đặc hiệu.

Bởi, viêm xoang hàm mạn tính ở trẻ em thường ít được chú ý, và nó có biểu hiện giống bệnh viêm mũi mạn tính thường hay gặp về mùa đông: chảy nước mũi lẫn mủ, ngạt tắc mũi, ít khi đau, đôi khi có triệu chứng ho về đêm, có khi lại bị viêm thanh khí quản với các đợt sốt trên 38oC tái phát.

Để khẳng định chắc chắn bệnh, cần khám kỹ lưỡng và chụp phim để thấy các tổn thương. Điều trị viêm xoang mạn tính bằng cách chọc rửa xoang hàm, sau đó bơm vào xoang các thuốc kháng sinh, chống viêm phối hợp điều trị bằng thuốc uống, xông mũi. Nếu điều trị tích cực thì phần lớn trẻ đều khỏi bệnh.

Viêm xoang sàng mạn tính hay gặp ở trẻ em do có liên quan đến viêm mũi mạn tính hoặc viêm mũi họng hoặc liên quan đến cơ địa của trẻ. Nhiều trường hợp xoang hàm đã điều trị khỏi nhưng xoang sàng thì còn viêm dai dẳng do giảm thiểu sức đề kháng, miễn dịch của đường thở trên. ở một số trẻ thường kèm thêm bệnh của đường thở, hay gặp là giãn phế quản.

Điều trị bệnh này chủ yếu bằng cách dùng thuốc, dùng kỹ thuật hút mủ và xuất tiết ở xoang sàng ra, sau đó cho thuốc kháng sinh, chống viêm vào xoang sàng, kết hợp với xông mũi họng. Nếu trẻ bị giãn phế quản và có nhiều xuất tiết đặc, nhầy thì phải hút dịch qua nội soi, dẫn lưu bằng cách thay đổi tư thế của trẻ, khí dung. Có thể tắm và dùng các nước khoáng có chứa lưu huỳnh, đồng thời nâng cao chất lượng môi trường sống, ăn, ở, sinh hoạt, nâng cao sức khỏe toàn thân…

Trong trường hợp cần thiết có thể dùng nội soi xoang sàng. Việc chỉ định phẫu thuật xoang hàm ở trẻ em cần hết sức thận trọng và chặt chẽ, vì lúc này, xoang hàm chưa phát triển hoàn chỉnh. Nếu thiếu kinh nghiệm trong chỉ định và kỹ thuật xử lý bằng phẫu thuật thì sẽ để lại những di chứng không thể lường trước.

Cường giáp

Cường giáp

Cường giáp là tình trạng có quá nhiều hormon tuyến giáp trong cơ thể. Sự dư thừa nồng độ của hormon giáp làm tăng chuyển hóa (cách sử dụng năng lượng), và tăng nguy cơ bị những bệnh khác như bệnh tim, loãng xương, và những vấn đề gặp trong khi đang mang thai.

NGUYÊN NHÂN

Những nguyên nhân gây cường giáp thường gặp ở người lớn bao gồm:

  • Bướu giáp độc lan tỏa (bệnh Grave, bệnh Basdow)
    • Tăng hoạt toàn bộ tuyến giáp do các kháng thể trong máu kích thích tuyến giáp phát triển và tiết ra một lượng lớn hormon giáp.
  • U độc tuyến giáp:
    • Hiện diện một nốt, hoặc một khối, bên trong tuyến giáp trội hơn các nốt còn lại tăng hoạt động và tiết ra một lượng lớn hormon giáp.
  • Bướu giáp độc đa nhân (bệnh Plummer):
    • Một hoặc nhiều nốt hoặc khối trong tuyến giáp trở nên tăng hoạt.
  • Viêm tuyến giáp bán cấp:
    • Giai đoạn cường giáp trong bệnh viêm tuyến giáp bán cấp do nhiễm virus hoặc do quá trình viêm hậu sản.
    • Do tuyến giáp bị viêm nên nó chế tiết ra một lượng hormon lớn vào trong máu.
  • Cường giáp do thuốc:
    • Cường giáp do Iod
    • Amiodarone (Cordarone)
    • Những thuốc cản quang có chứa iod được dùng trong chẩn đoán hình ảnh.

TRIỆU CHỨNG

Các triệu chứng và độ nặng của chúng tùy thuộc vào độ dài và độ lan rộng của tình trạng tăng tiết hormon giáp quá mức và tuổi của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể gặp những triệu chứng sau:

  • Căng thẳng và kích thích
  • Đánh trống ngực và tim đập nhanh
  • Không chịu được nóng hoặc tăng tiết mồ hôi
  • Run giật
  • Sụt cân hoặc tăng cân
  • Tăng cảm giác thèm ăn
  • Tăng số lần đi cầu hoặc bị tiêu chảy
  • Phù nề phần thấp ở chân
  • Bị liệt đột ngột
  • Khó thở khi gắng sức
  • Giảm kinh nguyệt
  • Giảm khả năng sinh sản
  • Rối loạn giấc ngủ (bao gồm mất ngủ)
  • Thay đổi thị giác:
    • Sợ ánh sáng hoặc nhạy cảm với ánh sáng
    • Kích ứng mắt kèm với tăng tiết nước mắt
    • Nhìn đôi
    • Lồi mắt
  • Mệt mỏi và yếu cơ
  • Phì đại tuyến giáp
  • Phù niêm trước xương chày (tích tụ dịch bên trong mô xung quanh xương cẳng chân, có thể gặp ở bệnh Basdow)

KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Các triệu chứng điển hình và các dấu hiệu thực thể có thể giúp bác sĩ nghĩ đến cường giáp, tuy nhiên có thể cần đến một số xét nghiệm để khẳng định chẩn đoán và nguyên nhân gây cường giáp.

Những xét nghiệm máu được làm bao gồm:

  • Hormon kích thích tuyến giáp (TSH - Thyroid Stimulating Hormone)
    • Nồng độ TSH sẽ thấp trong cường giáp
    • Xét nghiệm TSH là xét nghiệm nhạy cảm nhất để chẩn đoán cường giáp.
  • Thyroxine tự do (T4 tự do)
    • Hormon tuyến giáp hoạt động trong máu sẽ tăng.
    • Ở những bệnh nhân có tình trạng tuyến giáp không ổn định, nồng độ T4 giúp chẩn đoán chính xác tình trạng tuyến giáp hơn TSH
    • Đối với những trường hợp cường giáp nhẹ, nồng độ T4 sẽ vẫn giữ ở mức cao trong giới hạn bình thường.
  • Xét nghiệm miễn dịch phóng xạ (RIA) Triiodothyronine (T3) hoặc T3 tự do:
    • T3 thường tăng lên mức cao ở những trường hợp cường giáp nặng.
  • Thyroxine (T4)
  • Các tự kháng thể tuyến giáp: kháng thể kháng TSH receptor (TRAb - TSH receptor antibody) hoặc các globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp (TSI - Thyroid-stimulating immunoglobulin)
    • Những kháng thể này hiện diện ở hơn phân nửa bệnh nhân bị Basdow và kích thích tuyến giáp phát triển lớn hơn về kích thước.

Nếu các xét nghiệm giúp xác định cường giáp thì những khảo sát về hình ảnh có thể được dùng để xác định rõ hơn nguyên nhân của nó.

  • Chụp tuyến giáp bằng iod phóng xạ - bằng 123I hoặc 99mTc. Bạn sẽ được yêu cầu uống, hoặc nuốt một viên thuốc có chứa iod phóng xạ. Sau đó bạn sẽ chờ cho iod đi vào tuyến giáp, sau đó hình ảnh ghi nhận được sẽ cho biết lượng iod có trong tuyến giáp.
    • Giúp xác định nguyên nhân gây cường giáp và tìm xem có bất kỳ khối u hoặc hạch nào ở tuyến giáp đang sản xuất hormon giáp hay không.
    • Hiện tượng tăng hấp thu iod được phát hiện thấy ở hình ảnh chụp toàn thể trong bênh Basdow (xem hình 1 bên dưới) và ở hình ảnh chụp cục bộ trong nhân độc tuyến giáp (xem hình 2 bên dưới).
    • Hiện tượng giảm hấp thu iod xảy ra trong bệnh viêm giáp bán cấp (xem hình 3 bên dưới).

Cường giáp

Hình 1: Chụp tuyến giáp bằng Iod phóng xạ. So sánh giữa hình ảnh của một bệnh nhân bình thường với một bệnh nhân bị Basdow. Chú ý sự tăng hấp thu toàn thể ở khắp tuyến giáp bị phì đại trong bệnh Basdow.

Cường giáp

Hình 2: Chụp tuyến giáp bằng iod phóng xạ ở bệnh nhân bị bướu giáp độc đa nhân. Lưu ý hình ảnh loang lỗ và tối của các nốt đang chế tiết một lượng lớn hormon giáp. So sánh với hình ảnh bình thường ở hình 1.

Cường giáp

Hình 3: Chụp tuyến giáp bằng iod phóng xạ ở bệnh nhân bị viêm tuyến giáp bán cấp trong giai đoạn cường giáp. Lưu ý có rất ít iod được hấp thu trong tuyến giáp. Hiện tượng này là do quá trình viêm của tuyến giáp gây chế tiết những hormon giáp được dự trữ (gây tăng nồng độ hormon giáp trong máu) và giảm hấp thu iod.

  • Những xét nghiệm dương tính giả: tăng T3 toàn thể và T4 toàn thể hoặc giảm nồng độ TSH.
    • Sử dụng estrogen hoặc đang mang thai có thể làm tăng nồng độ TBG (thyroxine-binding globulin - Globulin gắn thyroxine) làm tăng nồng độ T4 toàn thể và T3 toàn thể, nhưng T4 tự do và T3 tự do bình thường và xét nghiệm độ nhạy cảm TSH cho kết quả bình thường.
    • Tăng thyroxine huyết trong tình trạng tuyến giáp bình thường (là tình trạng hormon giáp tăng mà không có sự hoạt động quá mức của hormon giáp) có thể được cho là tình trạng di truyền do bất thường cầu nối protein-albumin và tiền albumin.
    • Tình trạng đề kháng hormon giáp
      • Tăng nồng độ T4 trong huyết thanh mà không có cường giáp, thường là do di truyền.
    • Sử dụng corticoid, bệnh nặng, rối loạn tuyến yên.
      • Những tình trạng này có thể gây ức chế nồng độ TSH mà không cần có sự hiện diện của bệnh cường giáp.

ĐIỀU TRỊ

Những cách điều trị được nêu ra ở đây dùng để điều trị tất cả các nguyên nhân cường giáp ngoại trừ viêm giáp bán cấp. Viêm giáp bán cấp thường tự thuyên giảm mà không cần điều trị đặc hiệu.

Những phương pháp điều trị đối với cường giáp do bệnh Basdow hoặc bệnh u cục tuyến giáp được chia ra thành cách nhóm A) các phương pháp làm giảm sản xuất hormon giáp và B) các phương pháp điều trị triệu chứng để thay đổi những hiệu ứng gây ra do tình trạng hormon giáp được chế tiết quá nhiều. Mặc dù cách điều trị được phổ biến nhất đổi với bệnh tăng hoạt tuyến giáp là cắt bỏ tuyến giáp bằng iod phóng xạ, nhiều bệnh nhân ban đầu sẽ được điều trị bằng thuốc kháng giáp để làm nồng độ hormon giáp trở về bình thường trước khi cắt bỏ tuyến giáp bằng iod phóng xạ hoặc bằng phẫu thuật. Phẫu thuật được dùng để điều trị cường giáp nếu như bệnh nhân cần giảm nồng độ hormon giáp trong cơ thể xuống một cách nhanh chóng, chẳng hạn như trong trường hợp đang mang thai.

Những cách điều trị làm giảm hormon giáp

Thuốc kháng giáp

  • Methimazole (Tapazole)
  • Propylthiouracil (PTU)
  • Tác dụng: làm giảm sản xuất hormon giáp
  • Chỉ định:
    • Cường giáp do nhiều nguyên nhân
    • Dùng liều thấp để an toàn khi mang thai hoặc trong giai đoạn sau khi sinh lúc cho con bú.
    • Những bệnh nhân lớn tuổi hoặc những bệnh nhân bị bệnh tim mạch cần phải được điều trị trước bằng thuốc kháng giáp trước khi dùng liệu pháp phóng xạ.
  • Nguy cơ: nổi mẩn da, giảm bạch cầu hạt (tổn thương hệ miễn dịch) và viêm gan.

Iod phóng xạ

  • Tác dụng: phá hủy các tế bào của tuyến giáp có chức năng sản xuất hormon. Đây là cách điều trị cường giáp thường được dùng nhất tại Hoa Kỳ.
  • Chỉ định:
    • Bệnh Basdow
    • Bướu giáp độc đa nhân
  • Chống chỉ định:
    • Trong thai kỳ, nếu sử dụng iod phóng xạ có thể làm phá hủy mô giáp của thai nhi.
    • Những phụ nữ đang cho con bú có thể truyền iod phóng xạ qua sữa đi vào cơ thể đứa trẻ.
    • Sau khi điều trị, bệnh nhân sẽ được đề nghị không nên có thai trong vòng ít nhất 6 tháng sau.
  • Nguy cơ:
    • Hầu hết những bệnh nhân được điều trị sẽ bị suy giáp và cần phải dùng liệu pháp hormon thay thế đến suốt đời.
    • Những bệnh nhân lớn tuổi và có bệnh tim sẽ bị gia tăng nguy cơ viêm giáp do 131I (Iod phóng xạ).

Phẫu thuật

  • Đối với những bệnh nhân bị tăng hoạt nốt tuyến giáp: cắt bỏ một phần tuyến giáp có chứa nốt tăng hoạt.
  • Đối với những bệnh nhân bị tăng hoạt toàn thể tuyến giáp có phì đại tuyến giáp kèm theo hoặc không: cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp.
  • Nguy cơ của phẫu thuật:
    • Hầu hết bệnh nhân sẽ trở nên suy giáp và cần phải điều trị bằng liệu pháp hormon giáp thay thế.
    • Có một tỷ lệ nguy cơ nhỏ bị cường giáp tái phát nếu còn chừa lại một phần lớn tuyến giáp không cắt bỏ.
    • Có một tỷ lệ nguy cơ nhỏ bị tổn thương các cấu trúc gần tuyến giáp, bao gồm các dây thần kinh đến thanh quản và các tuyến điều hòa nồng độ canxi trong máu.

Những cách điều trị làm giảm triệu chứng

Thuốc ức chế beta-adrenergic

  • Ức chế hoạt động của hormon giáp trong cơ thể, làm chậm nhịp tim và giảm triệu chứng run.
  • Không làm thay đổi nồng độ hormon giáp cao trong máu.
  • Các loại thuốc:
    • Propanolol (Inderal)
    • Atenolol (Tenormin)
    • Metoprolol (Lopressor)
    • Nadolol (Corgard)
    • Inderal-LA

Cường giáp do điều trị

Liệu pháp Amiodarone

  • Amiodarone là loại thuốc được dùng để điều trị loạn nhịp tim. Viên amiodarone có chứa iod, và trên 10% những bệnh nhân dùng loại thuốc này gặp những bất thường trong chức năng tuyến giáp.
    • Những bệnh nhân sử dụng amiodarone nên được kiểm tra cơ bản về chức năng tuyến giáp trước khi bắt đầu sử dụng thuốc.
    • Cường giáp do amiodarone type 1 (hiện tượng Jod-Basedow) làm tăng sản xuất hormon giáp do thành phần iod có trong amiodarone.
    • Cường giáp do amiodarone type 2 tương tự như viêm tuyến giáp phá hủy, làm tăng lượng hormon giáp được phóng thích ra ngoài.

Thuốc tương phản dùng trong CT

  • Quá nhiều iod có trong thuốc tương phản có thể làm tăng sản xuất hormon giáp.

TIÊN LƯỢNG

Bệnh cường giáp thường có thể chữa được và hiếm khi gây tử vong. Tuy nhiên có thể xuất hiện biến chứng trong các trường hợp:

  • Cường giáp không được điều trị.
  • Các tác dụng phụ do điều trị, bao gồm iod phóng xạ, phẫu thuật và các liệu pháp hormon giáp thay thế.

Theo Emedicinehealth - Y học NET dịch

Sunday, April 25, 2010

Viêm Họng Là Do Siêu Vi

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Viem_Hong_La_Do_Sieu_Vi_535272433.jpg&size=article_medium
Thay đổi thời tiết, bụi, khói thuốc, rượu... không phải là những nguyên nhân chính gây viêm họng. Bởi 80% trường hợp viêm họng là do siêu vi. BS Trần Nguyên Khôi, chuyên khoa Cấp 1, Bệnh viện Nhi đồng 2, TPHCM, sẽ giải đáp một số thắc mắc xung quanh căn bệnh này.

Nhiều người cho rằng viêm họng do siêu vi không cần uống thuốc cũng tự khỏi. Điều đó có đúng không?

Viêm họng do siêu vi còn gọi là bệnh viêm họng và gặp nhiều nhất là trẻ nhỏ.

60% viêm họng là do siêu vi như Adenovirus, RSV... 30% do siêu vi khuẩn, 10% do những nguyên nhân không phải viêm nhiễm.

Không phải trường hợp nào cũng tự khỏi bệnh. Chỉ trong điều kiện lý tưởng như vệ sinh tốt, sức đề kháng của cơ thể tốt, không bị bội nhiễm vi khuẩn, bệnh sẽ tự lui sau 5-7 ngày. Ở giai đoạn bội nhiễm, không được chữa trị kịp thời, bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm.

Có phải bệnh thường xảy ra nhiều vào mùa lạnh? Dấu hiệu nào giúp nhận biết cơ thể bắt đầu nhiễm bệnh?

Thời tiết ẩm thấp, khói bụi, ô nhiễm... khiến vi khuẩn độc hại dễ xâm nhập vào đường hô hấp. Viêm họng do siêu vi thường bắt đầu bằng sự nhiễm siêu vi, tiếp đó là sự bội nhiễm các tạp khuẩn khác, thường là các vi khuẩn hội sinh có sẵn trong họng như liên cầu, phế cầu... làm bệnh nặng hơn.

Ban đầu, ở giai đoạn nhiễm siêu vi, người bệnh thường sốt vừa, người ớn lạnh, nhức đầu, mệt mỏi, kém ăn. Ngoài ra, họng có cảm giác khô nóng, dần dần trở nên đau rát, khó nuốt, giọng nói bị khàn nhẹ. Người bệnh có biểu hiện cảm cúm như: ho từng cơn, ho khan hoặc ho có đờm nhầy, kèm chảy mũi nhầy và tắc mũi.

Ở giai đoạn bội nhiễm vi khuẩn người bệnh sốt cao, môi khô, toàn bộ niêm mạc họng đỏ, amiđan sưng to đỏ và có xuất tiết.

Nhiều trường hợp, xuất hiện hạch ở góc hàm sưng nhẹ và hơi đau. Đến giai đoạn này, bệnh kéo dài và đòi hỏi phải được điều trị kháng sinh kịp thời, hạn chế các biến chứng có thể xảy ra.

Điều đó có nghĩa là khi bắt đầu bị viêm họng, chúng ta phải dùng kháng sinh ngay?

Với người lớn và trẻ nhỏ, vấn đề có dùng kháng sinh hay không cần có sự chỉ dẫn của bác sĩ. Kháng sinh chỉ dùng khi người bệnh có dấu hiệu nhiễm khuẩn rõ hoặc chưa loại trừ được nguyên nhân bội nhiễm vi khuẩn. Bác sĩ sẽ chọn lựa kháng sinh theo kết quả vi sinh, mức độ trầm trọng của bệnh, tiền sử sử dụng kháng sinh...

Nếu viêm họng do siêu vi thông thường, người bệnh không cần điều trị kháng sinh dự phòng. Nếu do bội nhiễm vi khuẩn, bác sĩ sẽ chỉ định kháng sinh cụ thể.

Vấn đề quan trọng nhất vẫn là phòng bệnh bằng cách đảm bảo vệ sinh sạch sẽ trong ăn uống, sinh hoạt, đeo khẩu trang khi ra đường. Một chế độ dinh dưỡng đầy đủ cũng giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể. Trẻ nhỏ cần được bú mẹ sau sinh, chúng ngừa đầy đủ và đảm bảo dinh dưỡng theo lứa tuổi.

Thử thai tại nhà

Dụng cụ thử thai tại nhà

Nếu bạn nghĩ mình có thai, có thể bạn sẽ muốn kiểm tra lại ngay tại nhà bằng dụng cụ thử thai. Bạn có thể mua bộ dụng cụ thử tại các quầy thuốc mà không cần phải có toa bác sĩ. Bộ dụng cụ thử thai tại nhà có tác dụng đo lường một loại hormone có tên là hCG (human chorionic gonadotropin) trong nước tiểu của bạn. Tuy nhiên đây là một loại test định tính, là loại test chỉ cho kết quả là dương tính hay âm tính mà thôi.


Loại test thử thai nhạy cảm nhất là những test được thực hiện trong các phòng xét nghiệm với mẫu thử là máu của bệnh nhân. Những loại test này không chỉ có tác dụng phát hiện ra sự hiện diện của hCG có trong máu mà còn có thể xác định được lượng của loại hormone này (xét nghiệm định lượng). Vì hCG có thể tăng lên gấp đôi mỗi 2 - 3 ngày trong vòng 6, 7 tuần đầu sau khi thụ thai nên những loại test này có thể cho biết được bạn đã mang thai bao lâu rồi và phát hiện được những bất thường có thể có của thai. Những loại test này sẽ được các bác sĩ thực hiện.
Ban đầu, nhiều phụ nữ thích sự riêng tư, thuận tiện và cho kết quả nhanh chóng hơn nên họ sẽ chọn cách thử thai tại nhà. Dụng cụ thử thai tại nhà sẽ không cho ra kết quả chính xác bằng các test thử máu được thực hiện bởi bác sĩ. Chúng cũng không thể xác định được xem liệu thai kỳ của bạn có diễn tiến được bình thường như mong đợi hay không.
Hormon hCG có thể được phát hiện trong nước tiểu vào khoảng 2 tuần sau khi thụ tinh (lúc trứng được thụ tinh bởi tinh trùng).
Khi sử dụng dụng cụ thử thai tại nhà, bạn sẽ phải nhỏ một giọt nước tiểu của mình lên một dải băng có tẩm chất hóa học được chuẩn bị sẵn. Thường phải mất từ 1 cho đến 2 phút để cho ra kết quả.

CHUẨN BỊ

Để cho ra kết quả tốt nhất từ bộ thử thai tại nhà, bạn cần phải tuân theo hướng dẫn được để kèm theo bên trong bộ thử thai.

  • Đọc nhãn và hướng dẫn cẩn thận: xem lại toàn bộ hướng dẫn và những hình ảnh bên trong để đảm bảo chắc chắn rằng bạn hiểu được cách thực hiện. Những hướng dẫn này sẽ chỉ cho bạn những thông tin sau:
    • Test này được dùng làm gì và không được dùng làm gì
    • Cách để lấy và dự trữ mẫu nước tiểu
    • Thực hiện test khi nào và bằng cách nào, bao gồm cả hướng dẫn về thời gian
    • Phân tích kết quả như thế nào
    • Những yếu tố nào có thể gây sai lệch kết quả
    • Số điện thoại của nhà sản xuất phòng trường hợp bạn có những thắc mắc nào đó.
  • Chỉ dùng những bộ test được Bộ Y Tế chấp thuận
  • Tuân thủ tất cả mọi hướng dẫn: bạn cần phải tuân thủ toàn bộ hướng dẫn để cho được kết quả tốt nhất. Hầu hết những bộ thử tại nhà đòi hỏi phải có thời gian, lượng mẫu thử và dụng cụ chính xác. Bạn cũng nên kiểm ra lại ngày hết hạn và tình trạng vỏ hộp trước khi thử để bảo đảm những thành phần bên trong bộ thử đều hoạt động tốt.
  • Khi cảm thấy nghi ngờ, bạn hãy liên hệ với bác sĩ: do tất cả những loại xét nghiệm đều có thể cho ra kết quả giả (có nghĩa là test báo hiệu bạn có thai nhưng có thể bạn không có hoặc test báo rằng bạn không có thai nhưng thật sự là bạn đang có). Bạn nên đến gặp bác sĩ nếu nghĩ rằng kết quả ghi nhận được từ mẫu thử là sai hoặc nếu bạn muốn xác nhận lại kết quả.


THỰC HIỆN

Hầu hết những bộ dụng cụ thử thai tại nhà đều yêu cầu bạn phải để miếng băng thử hứng vào giữa dòng nước tiểu khi bạn đang tiểu vào toilet hoặc dùng một ly sạch để hứng nước tiểu rồi nhúng que thử vào trong ly. Nếu bạn có thai, hầu hết các que thử sẽ cho kết quả là một vạch màu, tuy nhiên điều này có thể tùy thuộc vào hãng sản xuất. Đọc kỹ hướng dẫn kỹ càng để xác định kết quả. Đọc hướng dẫn và tuân thủ kỹ lưỡng để bảo đảm có được kết quả tốt nhất. Thời gian thử thường chỉ tốn khoảng vài phút.

  • Một số loại test có thể phát hiện ra hCG ở nồng độ thấp. Để có kết quả xác thực nhất, bạn nên thử thai vào khoàng từ 1 - 2 tuần sau khi bị mất kinh. Có một số dụng cụ thử thậm chí có thể nhạy cảm tới mức cho biết bạn có thai hay không trước cả khi bạn bị mất kinh.
  • Bạn có thể làm tăng độ chính xác của test bằng cách dùng nước tiểu đầu tiên vào buổi sáng sớm để thử. Mẫu nước tiểu này đã được lắng đọng trong bàng quang của bạn trong suốt đêm. Nếu bạn có thai thì nó sẽ chứa nhiều hCG hơn những mẫu nước tiểu được lấy ở những thời điểm trễ hơn trong ngày.
  • Nếu bạn vẫn nghĩ mình có thai mặc dù test cho kết quả âm tính, bạn có thể thực hiện thử lại lần nữa vào vài ngày sau đó. Do lượng hCG sẽ gia tăng rất nhanh khi bạn có thai nên bạn có thể sẽ nhận được kết quả dương tính khi thử vào vài ngày sau. Một số bộ dụng cụ thử có chứa sẵn nhiều que thử bên trong để bạn có thể thử đi thử lại được nhiều lần.
  • Dụng cụ thử thai tại nhà và dụng cụ thử thai bằng nước tiểu được các bác sĩ sử dụng là tương tự nhau. Cả hai đều có chức năng phát hiện hCG có trong nước tiểu, tuy nhiên các bác sĩ có thể sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc thực hiện test. Bác sĩ có thể cho bạn thử máu tiếp sau đó để kiểm tra lại và có thể khám cho bạn để giúp cho ra kết quả đáng tin cậy hơn.

Các loại dụng cụ thử thai dùng tại nhà

  • Loại dụng cụ thử thai được dùng nhiều nhất là test strip hay dipstick, là loại bạn dùng để đưa vào dòng nước tiểu khi đang tiểu vào toilet. Với những loại khác có thể bạn sẽ phải tiểu vào trong một ly nhỏ và nhúng que thử vào trong ly. Một phần của que thử sẽ đổi màu nếu có hCG trong nước tiểu (là dấu hiệu chứng tỏ bạn có thể đã có thai).
  • Một số bộ dụng cụ có chứa sẵn ly đựng nước tiểu có gắn dụng cụ thử. Bạn có thể nhỏ một vài giọt nước tiểu vào trong dụng cụ này hoặc nhúng dụng cụ thử vào trong ly nước tiểu. Sau đó, que thử sẽ đổi màu cho kết quả dương tính hay âm tính.

Ngoài ra, còn có những bộ dụng cụ thử thai ít thông dụng hơn đòi hỏi bạn phải hòa nước tiểu với một loại bột hay chất lỏng đặc biệt để tạo phản ứng hóa học làm nước tiểu đổi màu rồi so sánh màu sắc nước tiểu với bảng kết quả đính kèm để phân tích.

NGUY CƠ
Các dụng cụ thử thai không gây ra những nguy cơ nào đối với sức khỏe của bạn.

Bạn có thể nhận được kết quả không chính xác, có thể là dương tính giả hay âm tính giả do những sai sót có thể xảy ra khi bạn lấy mẫu nước tiểu, do thử ở giai đoạn quá sớm nên không nhận biết được những thay đổi của hormon, do lấy nước tiểu sai thời điểm trong ngày (phải lấy nước tiểu ở lần đi tiểu đầu tiên trong ngày ngay sau khi thức dậy sẽ cho ra kết quả tốt nhất), hoặc do tác động của những loại thuốc mà bạn đang sử dụng.

Có một nghiên cứu cho thấy nhiều phụ nữ gặp khó khăn khi thực hiện theo những hướng dẫn có đính kèm theo bộ thử thai. Trong nghiên cứu này, có nhiều mẫu thử đáng lẽ cho kết quả dương tính thì lại cho ra kết quả âm tính (kết quả sai lệch).

KẾT QUẢ

Độ chính xác của dụng cụ thử thai tại nhà tùy thuộc vào mức độ tuân thủ theo hướng dẫn và phân tích kết quả của bạn bao nhiêu. Nếu bạn không làm đúng hoặc hiểu lầm hướng dẫn, bạn có thể nhận được kết quả sai.

Có thể bạn đã thử thai ở giai đoạn quá sớm của chu kỳ. Do đó, có thể bạn đã có thai nhưng cơ thể bạn chưa sản xuất đủ hCG để cho ra kết quả dương tính khi sử dụng bộ dụng cụ thử thai tại nhà. Đây có thể là một khó khăn đặc biệt nhất là khi chu kỳ kinh nguyệt của bạn không đều hoặc bạn tính sai ngày hành kinh cuối cùng của mình.


KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM

Nếu bạn bị trễ kinh và nghi ngờ mình có thai, bạn có thể chờ từ 7-10 ngày sau rồi hãy sử dụng dụng cụ thử thai. Nếu kết quả là âm tính, bạn hãy chờ thêm một ít ngày nữa rồi để xem mình có hành kinh trở lại không. Nếu bạn vẫn chưa hành kinh, hãy thử lại thêm một lần nữa. Nếu kết quả cho ra vẫn là âm tính và chu kỳ của bạn vẫn chưa trở về bình thường, bạn nên đến gặp bác sĩ sản phụ khoa để được khám.

Theo Emedicinehealth - Y học NET dịch

Saturday, April 24, 2010

Phát Hiện Và Điều Trị Sớm Giãn Phế Quản

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Phat_Hien_Va_Dieu_Tri_Som_Gian_Phe_Quan_569726170.jpg&size=article_medium
Giãn phế quản là một bệnh bẩm sinh hay mắc phải, tổn thương gây giãn thường xuyên không hồi phục của một hay nhiều phế quản lớn, có hủy hoại thành phế quản. Bệnh có thể ảnh hưởng nặng nề đến tim, phổi, gan, thận nên cần phải phát hiện và điều trị sớm mới có thể tránh các biến chứng nặng. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh giãn phế quản do viêm hay nhiễm khuẩn đường hô hấp tái đi tái lại gây hoại tử thành phế quản, thường xảy ra sau khi mắc các bệnh cúm, sởi, ho gà, phế quản phế viêm. Xơ nang chiếm khoảng 50% trong các nguyên nhân giãn phế quản. Tổn thương xơ quanh phế quản co kéo do lao xơ phổi, lao xơ hang, áp-xe phổi mãn tính. Các hội chứng như Kartagener: giãn phế quản kèm polip mũi và viêm xoang, đảo lộn phủ tạng; hội chứng Mounier-Kuhn: giãn phế quản kèm viêm xương sàng. Chít hẹp phế quản do u, dị vật, phía dưới chỗ chít hẹp dễ bị nhiễm khuẩn đồng thời nội áp lực phế quản tăng gây giãn phế quản. Suy giảm miễn dịch, thiếu hụt alpha1antiprotease do hút thuốc lá, rối loạn thanh thải nhầy lông, các bệnh thấp. Các trường hợp suy giảm miễn dịch có thể dẫn đến giãn phế quản gồm: thiếu hụt toàn thể gamma globulin mắc phải, suy giảm miễn dịch thông thường; thiếu hụt chọn lựa các nhóm IgA, IgM và IgG; suy giảm miễn dịch mắc phải do điều trị độc hại tới gan.

Biểu hiện lâm sàng

Bệnh giãn phế quản không tự khỏi, ngược lại nếu không điều trị, thì các ổ giãn có xu hướng lan rộng. Thỉnh thoảng có những đợt bội nhiễm làm cho bệnh nặng dần lên. Các biến chứng hay gặp là: tâm phế mạn, suy hô hấp mạn, thoái hóa dạng tinh bột ở gan thận, các áp-xe tạng thứ phát ở nhiều nơi như não, gan, trung thất…; bội nhiễm phổi phế quản dịch mủ ứ đọng trong ổ giãn gây viêm phổi, áp-xe hoá; ho ra máu dai dẳng, có khi ho ra máu nặng đe dọa đến tính mạng; viêm phế quản mạn, khí phế thũng.

Phòng bệnh cần thực hiện các biện pháp phối hợp như: điều trị tốt các bệnh cúm, sởi, ho gà khi còn nhỏ; điều trị tốt các bệnh đường hô hấp trên như: viêm xoang, viêm họng, viêm amidal, điều trị tốt lao phổi như lao sơ nhiễm, lao thâm nhiễm, lao phế quản.

Triệu chứng giãn phế quản gồm ho mạn tính, đờm mủ xuất tiết nhiều, ho ra máu và viêm phổi tái đi tái lại. Sút cân, thiếu máu, yếu sức. Ho, khạc đờm dai dẳng, khạc đờm là chủ yếu, thường khạc đờm vào sáng sớm, số lượng nhiều có thể tới 300ml/24 giờ. Đờm có thể lắng thành 3 lớp từ trên xuống dưới: bọt, nhầy, mủ. Ho ra máu nhiều hoặc ít. Ho ra máu tái diễn không khạc đờm gặp trong giãn phế quản thể khô. Trong giãn phế quản lan toả có thể khó thở. Khám thấy khoảng trên 30% số bệnh nhân có ngón tay dùi trống. Nghe phổi: có ran ẩm, ran nổ ở đáy phổi, một bên hoặc hai bên. Vị trí nghe tương đối cố định. Nếu giãn phế quản lan toả đi kèm bội nhiễm có thể thấy ran rít, ran ngáy nhưng chủ yếu vẫn là ran nổ và ran ẩm. Rối loạn chức năng phổi tắc nghẽn với thiếu ôxy máu gặp trong giãn phế quản trung bình hoặc nặng. Chụp Xquang thấy hình các phế quản dày đặc do xơ quanh phế quản, các ổ tròn sáng nhỏ ở đáy phổi. Có thể có ổ mức khí nước. Thùy phổi có ổ giãn nhỏ lại. Xẹp phổi thùy dưới trái. Chụp phế quản cản quang: bơm thuốc cản quang (lipiodol) vào trong phế quản, rồi chụp là biện pháp chẩn đoán quyết định. Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao có thể chẩn đoán xác định được ổ giãn phế quản. Xét nghiệm máu: trong đợt bùng phát có thể bạch cầu tăng, N tăng, máu lắng tăng. Đo thông khí phổi: có thể thấy rối loạn thông khí tắc nghẽn hoặc hỗn hợp. Cấy vi khuẩn có thể thấy tạp khuẩn.

Chẩn đoán định hướng dựa vào triệu chứng lâm sàng và Xquang phổi chuẩn. Chẩn đoán xác định dựa vào chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao hoặc chụp phế quản cản quang. Bệnh cần chẩn đoán phân biệt với viêm phế quản mạn, lao phổi có hang nhỏ ở thùy dưới, áp-xe phổi.

Điều trị

Điều trị nội khoa gồm dùng kháng sinh; lý liệu pháp lồng ngực hàng ngày với dẫn lưu tư thế, vỗ rung lồng ngực, hít thở các thuốc giãn phế quản. Sử dụng kháng sinh dựa trên kháng sinh đồ hoặc dùng gentamyxin phối hợp với nhóm cephalosporin, điều trị cho đến khi hết đờm mủ, thường phải dùng từ 2-4 tuần. Soi phế quản cần để lượng định ho ra máu, hút các xuất tiết ứ đọng, loại trừ các tổn thương đường thở tắc nghẽn. Chọn tư thế thích hợp để dẫn lưu đờm kết hợp với vỗ rung cho bệnh nhân ho khạc đờm mủ ra ngoài. Nếu bệnh nhân khó khạc đờm thì cho các thuốc long đờm như: natribenzoat 5%, mucomyst, mucitux, phun mù nước muối ấm, cho uống nhiều nước, cho alpha chymotripsin. Trái lại nếu đờm nhiều loãng, đờm trong không có mủ thì cho giảm tiết bằng atropin hoặc phun atrovent. Có thể dùng các vị thuốc nam như ăn hành, tỏi sống, uống nhiều nước. Điều trị cầm máu nếu ho ra máu. Có khó thở thì cho theophylin, salbutamol, thở ôxy ngắt quãng.

Điều trị ngoại khoa là biện pháp hữu hiệu nhất nếu điều trị nội khoa không hiệu quả. Thường chỉ định trong các trường hợp giãn phế quản khu trú; ho ra máu nặng đe doạ tính mạng, hoặc dai dẳng, chức năng phổi đảm bảo, điều trị bảo tồn thất bại. Phẫu thuật cắt thuỳ hoặc phân thuỳ phổi.

Tràn khí màng phổi (Xẹp phổi)

Tràn khí màng phổi (xẹp phổi)

Xẹp phổi là tình trạng khoang trống nằm giữa thành ngực và phổi (khoang màng phổi) chứa đầy khí làm cho toàn bộ hoặc một phần của phổi bị xẹp lại. Không khí thường đi vào khoang màng phổi từ những tổn thương ở thành ngực hoặc từ một lỗ ở phổi gây ra hậu quả là tình trạng tràn khí màng phổi.

Có hai loại tràn khí màng phổi. Tràn khí màng phổi áp lực và tràn khí màng phổi đơn thuần.

Tràn khí màng phổi áp lực

  • Đây là tình trạng khí tích tụ dưới áp lực và thường gây xẹp hoàn toàn một hay cả hai bên phổi. Tình trạng này gây rối loạn chức năng nặng nề của hệ tim mạch.
  • Áp lực tích tụ trong khoang màng phổi làm chậm lại hoặc ngừng hẳn dòng máu quay trở về tim từ các tĩnh mạch. Lúc đó, tim sẽ có ít máu hơn để bơm vào các động mạch chính nên huyết áp sẽ tụt xuống và những cơ quan sinh tồn khác sẽ nhanh chóng bị ảnh hưởng.
  • Nếu bệnh nhân không được điều trị có thể gây tử vong.

Tràn khí màng phổi đơn thuần

  • Tràn khí màng phổi đơn thuần thường chỉ gây xẹp một phần phổi. Áp lực tích tụ trong khoang phổi không đủ để gây ra rối loạn chức năng tim mạch.
  • Xẹp phổi có thể nặng đến mức làm giảm lượng oxy trong máu làm cho bệnh nhân khó thở.
  • Loại tràn khí màng phổi này có thể ít và ổn định và không cần phải điều trị cấp cứu. Tuy nhiên, tràn khí màng phổi có thể diễn tiến chậm hoặc nhanh và gây ra những suy giảm nặng nề về hệ tim mạch và thường cần phải được theo dõi.

Tràn khí màng phổi (Xẹp phổi)

NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân thường gặp nhất gây tràn khí màng phổi là chấn thương lồng ngực. Chẳng hạn như xương sườn bị gãy có thể đâm vào phổi. Ngoài ra, những vết thương xuyên thấu từ đạn, dao, hoặc những vật nhọn khác có thể đâm thủng phổi trực tiếp.

Đôi khi, một người rất cao và gầy dễ bị tràn khí màng phổi tự phát. Trong trường hợp này, phổi có thể bị xẹp do một chấn thương nhỏ hoặc thậm chí không có chấn thương nào cả. Những yếu tố nguy cơ khác bao gồm hút thuốc lá và sử dụng hoặc lạm dụng những loại thuốc kích thích.

Tràn khí màng phổi tự phát

  • Đây là tình trạng tràn khí màng phổi gây xẹp phổi mà không có tổn thương hay chấn thương nhìn thấy được.
  • Một túi nhỏ chứa đầy khí bên trong phổi có thể vỡ ra và làm khí len vào khoang màng phổi gây tràn khí màng phổi tự phát. Những trường hợp này xuất hiện ở những bệnh nhân cao và gầy do hình dạng của phổi và lồng ngực của họ nên có khuynh hướng dễ bị dị tật này hơn.
  • Khó thở và đau nhói, dữ dội có thể xuất hiện ở những người có vẻ ngoài khỏe mạnh.
  • Những người hút thuốc lá dễ có nguy cơ bị tràn khí màng phổi tự phát hơn.
  • Những loại thuốc kích thích được hít sâu và mạnh vào phổi có thể gây ra nguy cơ tràn khí màng phổi cao hơn.

Tràn khí màng phổi do chấn thương

  • Chấn thương trực tiếp vào thành ngực do vết thương xuyên thấu.
  • Chấn thương cũng có thể là do những thủ thuật dùng để chẩn đoán và điều trị của các bác sĩ, chẳng hạn như dùng kim hút dịch ra khỏi khoang màng phổi, sinh thiết phổi, hoặc đưa một catheter tĩnh mạch lớn vào tĩnh mạch gần cổ.

Tràn khí màng phổi do bệnh có thể xảy ra do những bất thường ở nhu mô phổi.

  • Xẹp phổi có thể là biến chứng của những bệnh sau:
TRIỆU CHỨNG
  • Đau nhói, dữ dội ở ngực và tăng lên khi thở hoặc hít vào sâu. Đây là tình trạng viêm màng phổi, do sự kích thích của các đầu tận dây thần kinh trong màng phổi. Có một điều thú vị là bản thân nhu mô phổi không có chứa đầu tận dây thần kinh nào cả.
  • Cơn đau có thể lan đến vai và/hoặc sau lưng.
  • Có thể bệnh nhân bị ho khan do sự kích thích của cơ hoành.
  • Trong trường hợp tràn khí màng phổi áp lực, có thể có những dấu hiệu của tim mạch và shock. Tình trạng này sẽ gây nguy hiểm tính mạng tức thời.
    • Các tĩnh mạch lớn ở cổ sẽ nổi lên, hoặc da sẽ chuyển sang màng xanh do thiếu oxy (chứng xanh tím). Mạch nhanh và huyết áp tụt. Bệnh nhân sẽ cảm thấy bồn chồn và có thể nói khó. Nếu trong vòng vài phút kế tiếp vẫn không được điều trị, bệnh nhân sẽ bị mất ý thức, shock và tử vong.
KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM

Nên gọi cho bác sĩ bất kỳ lúc nào bạn có những triệu chứng của đau ngực, do đau ngực có thể là kết quả của những bệnh có mức độ nghiêm trọng tương đương hoặc hơn.

  • Sau một chấn thương cùn vào lồng ngực, chẳng hạn như té đập vào xương sườn, bác sĩ có thể sẽ khám xem bạn có bị khó thở hoặc bị đau khi thở hay không.
  • Nếu bạn ho ra máu (khái huyết) sau chấn thương ngực hoặc xương sườn, đây có thể là dấu hiệu của một tình trạng có tính chất nghiêm trọng hơn và cần phải được điều trị bởi một bác sĩ chuyên khoa.

Hãy gọi cấp cứu nếu bạn bị đau ngực nặng hoặc khó thở nặng.

  • Những vết thương xuyên thấu ở lồng ngực có thể làm gãy xương sườn hoặc trực tiếp gây xẹp phổi. Vết thương xuyên thấu có thể có những nguyên nhân sau:
    • Bị đâm bởi vật nhọn.
    • Vết thương do súng bắn
    • Vết thương cùn do bị đấm hoặc bị đụng phải bởi đồ vật, chẳng hạn như trái bóng, làm gãy xương sườn và đâm vào trong khoang phổi.
  • Bất kỳ trường hợp xẹp phổi nào cũng có thể nhanh chóng trở nên xấu đi thành tràn khí màng phổi áp lực gây đe dọa mạng sống.
KHÁM VÀ CÁC XÉT NGHIỆM
  • Khám lồng ngực bằng cách dùng ống nghe và gõ có thể giúp gợi ý đến tình trạng tràn khí màng phổi. Trong trường hợp tràn khí màng phổi áp lực, những dấu hiệu sau có thể xảy ra:
    • Huyết áp sẽ giảm do giảm cung lượng tim.
    • Xanh tím do mô thiếu oxy.
    • Giảm ý thức do hạ huyết áp, giảm oxy máu.
  • Bác sĩ sẽ chẩn đoán xác định với X quang ngực:
    • Tràn khí màng phổi rất nhẹ có thể bị bỏ sót ở những phim X quang thường quy.
    • Bác sĩ có thể chụp nhiều phim, bao gồm phim X quang lúc thở ra tối đa, hoặc thậm chí chụp CT ngực để tìm hình ảnh xẹp phổi.
ĐIỀU TRỊ

Tại nhà

Không có cách điều trị tại nhà cho tình trạng tràn khí màng phổi.

Làm dịu triệu chứng: Tràn khí màng phổi đơn giản có thể được làm dịu lại bằng cách kê một cái gối mềm ở thành ngực ở những trường hợp bị xẹp phổi do gãy xương sườn từ những chấn thương cùn để nẹp vết gãy lại và làm giảm đau mỗi khi thở. Không nên gõ vào xương sườn hoặc thành ngực vì nó có thể làm hạn chế hô hấp và làm tình trạng bệnh trở nên xấu hơn.

Tại bệnh viện

Tràn khí màng phổi áp lực

  • Tràn khí màng phổi áp lực được điều trị bằng cách dùng kim nối với ống bơm rồi chọc vào lồng ngực để rút khí ra ngoài.
  • Cách điều trị lâu dài là đặt một ống nhựa vào bên trong lồng ngực qua một đường rạch nhỏ gần nách rồi gắn với máy hút có nước. Cần phải giữ ống ở lồng ngực vài ngày trước khi lấy nó ra ngoài.

Tràn khí màng phổi đơn thuần

  • Tràn khí màng phổi đơn thuần thường có cách điều trị tương tự với tràn dịch màng phổi do áp lực với ống dẫn lưu và cần phải nhập viện.
  • Nếu vùng phổi xẹp nhỏ và không thể nở ra trở lại được, bác sĩ có thể thử thực hiện một số kỹ thuật hít khác nhau với 100% oxy để làm cho phần phổi bị xẹp dãn nở ra trở lại một cách tự phát.
  • Có thể đặt một catheter nhỏ vào lồng ngực và rút khí ra ngoài bằng các kỹ thuật hút sử dụng ống bơm tiêm và van 3 chiều.
  • Nếu phổi đã bị xẹp nhiều lần hoặc xẹp mạn tính, có thể cần phải dùng phẫu thuật hoặc phương pháp hóa học để làm màng phổi dính vào thành ngực (thủ thuật gây dính màng phổi), những thủ thuật này cần có sự tham dự của các bác sĩ chuyên khoa.
NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO


Phòng ngừa

Chủ yếu là phòng tránh những yếu tố nguy cơ. Chẳng hạn như nếu bạn đang có nguy cơ bị tràn khí màng phổi, bạn nên tránh hút thuốc lá để ngăn ngừa khả năng bị tràn khí màng phổi tự phát.

Tiên lượng

  • Tiên lượng của những bệnh nhân bị tràn khí màng phổi phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra nó.
    • Đối với những trường hợp tràn khí màng phổi tự phát thì bệnh nhân sẽ bị gia tăng nguy cơ bị xẹp phổi lần nữa trong tương lai.
    • Nếu không có áp lực, tình trạng này sẽ được điều trị dễ dàng bằng cách loại bỏ khí ra ngoài làm phổi nở ra trở lại và quay lại chức năng phổi bình thường sau vài ngày.
    • Tràn khí màng phổi áp lực có thể gây đe dọa mạng sống và tử vong.
  • Một số trường hợp sẽ gây xơ sẹo màng phổi sau khi điều trị và gây ra những cơn đau ngực nặng, khu trú và cách quãng trong một thời gian ngắn.
  • Thông thường, khi tràn dịch màng phổi đã được chữa lành, sẽ không gây ra một hậu quả về lâu dài nào đối với sức khỏe. Tuy nhiên, tràn khí màng phổi tự phát có thể tái phát ở khoảng trên 50% bệnh nhân.

Theo EmedicineHealth - Y học NET dịch

Friday, April 23, 2010

Viêm Tuyến Mang Tai Dễ Gặp Trong Mùa Đông

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Viem_Tuyen_Mang_Tai_De_Gap_Trong_Mua_Dong_367884593.jpg&size=article_medium

Viêm tuyến mang là hiện tượng tuyến nước bọt mang tai bị viêm nhiễm do vi khuẩn hoặc virut, nấm hoặc dị ứng. Bệnh rất hay gặp trong mùa đông, gặp nhiều ở nữ hơn nam với tỷ lệ 8/1. Nguyên nhân và dấu hiệu của viêm tuyến mang tai

Nếu tuyến nước bọt mang tai bị viêm do virut quai bị thì người ta nói bệnh nhân mắc quai bị, tuy nhiên tỷ lệ viêm tuyến mang tai do virut quai bị chỉ chiếm 24% tổng số các loại vi khuẩn gây bệnh tại tuyến. Biểu hiện của quai bị là sưng đau một bên vùng góc hàm đột ngột ngày càng tăng, sau đó lan sang bên đối diện, một số trường hợp có nóng đỏ và đau (trong trường hợp viêm tấy hoặc áp-xe tuyến mang tai), có thể kèm theo hiện tượng nổi hạch ngay dưới tuyến. Toàn thân sốt, môi khô, lưỡi bẩn, thể trạng mệt mỏi. Khám thấy niêm mạc miệng đỏ, lỗ đổ ra của tuyến mang tai (ống Sténon) – ngang răng số 6 hàm trên sưng đỏ, ấn có thể thấy mủ chảy ra. Nước bọt lúc này trở nên quánh, dính, rất hôi. Có thể kèm theo viêm miệng, đau nhất là khi nhai và há miệng. Nếu viêm tuyến mang tai do quai bị xảy ra ở tuổi thanh niên cần lưu ý điều trị sớm vì hay kèm thêm tổn thương ở một số bộ phận khác của cơ thể như điếc tiếp nhận (tổn thương thần kinh nghe), tổn thương tinh hoàn – dễ gây vô sinh hoặc ung thư tinh hoàn. Do đó những bệnh nhân này cần được khám, điều trị kịp thời và theo dõi theo hẹn của thầy thuốc chuyên khoa. Sau quai bị có thể để lại những hốc trong lòng tuyến mang tai do các nang tuyến bị hoại tử. Đây là nơi trú ẩn của vi khuẩn để gây viêm mạn tính.

Một số trường hợp viêm tuyến nước bọt mang tai do sỏi. Viêm tuyến mang tai loại này thường bị một bên, hay tái phát. Bệnh nhân hay phàn nàn rằng mỗi lần nhìn thấy đồ chua hay trước mỗi bữa ăn ngon họ lại đau tức vùng tuyến mang tai, đồng thời nước bọt tăng tiết trong miệng. Phẫu thuật cắt bỏ tuyến mang tai được đặt ra trong những trường hợp mà tần suất viêm trên 5 lần/1 năm.

Viêm tuyến nước bọt mang tai do các loại vi khuẩn hay virut khác như staphylococus aureus, Influenza, Coxsackie.., cũng hay biểu hiện ở một bên. Bệnh xuất hiện sau một số điều kiện thuận lợi: viêm nhiễm amiđan, viêm lợi, giảm hay mất bài tiết nước bọt sau những thủ thuật gây mất nước, sau những đợt điều trị an thần kinh hay tăng năng giáp, giảm khả năng miễn dịch do quá suy mòn hoặc dùng thuốc giảm miễn dịch, rối loạn chức năng đề kháng với enzym nước bọt do viêm tuỵ hoại tử, chảy máu. Nhiều trường hợp xuất hiện sau phẫu thuật đường tiêu hóa hay sau phẫu thuật ghép tạng, viêm tuyến mang tai sau bệnh mèo cào. Tuyến mang tai sưng đau nhưng ấn vẫn mềm. Da bao quanh tuyến nhẵn, không có lỗ rò.

Viêm tuyến nước bọt cấp tính ở trẻ. Khoang miệng trẻ mới sinh thường vô khuẩn nhưng sẽ bị nhiễm khuẩn sau vài giờ. Khi đó nếu kháng thể của mẹ bị khiếm khuyết sẽ mắc viêm tuyến nước bọt mang tai cấp một bên hoặc hai bên. Dạng viêm tuyến nước bọt này sẽ lành nhanh chóng nếu dùng kháng sinh đầy đủ. Những nghiên cứu gần đây qua kính hiển vi điện tử cũng khẳng định khả năng đa nguyên nhân và có liên quan đến virut.

Viêm tuyến nước bọt mang tai diễn biến lành tính, thường tự khỏi sau 3 – 10 ngày hoặc chuyển sang viêm mạn tính, phì đại tuyến gây biến dạng khuôn mặt.

Điều trị và phòng bệnh có khó không?

Điều trị bằng kháng sinh, chống viêm, giảm phù nề, giảm đau trong vòng 7 – 10 ngày theo kháng sinh đồ bằng đường uống hoặc tiêm. Có thể điều trị bổ sung bằng các loại kháng enzym.

Rửa ống tuyến thường xuyên một cách có hệ thống với các dung dịch kháng sinh. Rửa từ 3 – 4 lần, mỗi lần cách nhau vài ngày, lặp lại trong vòng 4 – 6 tháng. Điều trị theo đúng phác đồ và phải kiên nhẫn mới bảo đảm đạt được lành bệnh vĩnh viễn (thường ở tuổi thiếu niên). Theo một số tác giả, khoảng 80 – 90% bệnh nhân tự lành khi đến độ tuổi 13 – 15 tuổi, có thể do sự thay đổi hoóc môn ở tuổi trưởng thành.

Tại chỗ: vệ sinh răng miệng bằng các dung dịch sát khuẩn.

Nội soi mũi xoang

Ống nội soi mũi là một thiết bị quang học dùng để khám mũi. Thủ thuật này được gọi là nội soi mũi chẩn đoán. Vì ống soi này khá mảnh mai (đường kính khoảng từ 2.7 - 4.0 mm) nên nó có thể được đưa qua lỗ mũi một cách dễ dàng để kiểm tra hốc mũi và các xoang bên trong.

Một số ống soi cho phép ta quan sát được những khu vực nằm thẳng ngay phía trước đầu ống, một số khác thì quan sát được những khu vực tạo với đầu ống một góc. Những ống soi "góc" này có thể được dùng để quan sát các ngóc ngách. Khám mũi theo cách thông thường gặp nhiều giới hạn, tuy nhiên với ống nội soi mũi ta có thể khám được mũi xoang một cách chi tiết hơn. Ngoài ra ống soi mũi còn có thể được dùng trong phẫu thuật.

Phòng nội soi mũi

Nội soi mũi thường được thực hiện trong phòng mạch bác sĩ tai mũi họng. Bác sĩ có thể sẽ nhìn trực tiếp vào ống soi hoặc 1 camera sẽ được gắn vào ống soi và truyền hình ảnh thu được ra một màn hình ở bên ngoài. Toàn bộ cuộc thăm khám có thể được ghi lại vào băng video hoặc vào đầu thu kỹ thuật số. Nếu muốn, bệnh nhân có thể nhìn thấy được những hình ảnh từ cuộc thăm khám của mình.

Thủ thuật soi

Các bệnh nhân có thể chịu đựng được thủ thuật này rất tốt. Nhiều bác sĩ TMH sẽ xịt thuốc làm thông mũi và thuốc tê qua mũi bệnh nhân trước khi soi. Thông thường thì thủ thuật này có thể được hoàn thành mà không cần sử dụng bất kỳ một loại thuốc nào.

Dụng cụ soi

Những dụng cụ này được thiết kế để dùng trong nội soi ở mũi và xoang. Chúng có thể được sử dụng ở cả phòng mổ và phòng mạch bác sĩ.

Dụng cụ sử dụng cho xoang trán

Những dụng cụ này được thiết kế dùng cho nội soi mũi ở phòng mổ và phòng mạch bác sĩ. Cần lưu ý là những dụng cụ này có độ cong do đó nó có thể chạm đến những vùng nằm trong các ngóc ngách. Những dụng cụ này được sử dụng chung với ống soi "góc"

Những dụng cụ này được thiết kế dùng cho xoang trán. Vì xoang trán nằm ngay phía trên mũi nên các dụng cụ phải cong để có thể đi vào được xoang trán qua đường mũi. Phẫu thuật nội soi xoang trán rất khó vì giải phẫu của khu vực này rất phức tạp.

Nội soi mũi trong phòng mổ

Vào những năm 80 của thế kỷ trước, phẫu thuật nội soi xoang đã trở nên phổ biến trong điều trị phẫu thuật các trường hợp viêm xoang không cải thiện với kháng sinh. Một số bác sĩ thích nhìn trực tiếp qua ống soi, trong khi đó một số khác lại thích sử dụng camera để truyền hình ảnh ra màn hình lớn (giống như trong hình).

Phẫu thuật xoang với hỗ trợ của máy vi tính

Gần đây, hệ thống phẫu thuật với sự trợ giúp của máy vi tính (CAS - computer-aided surgery) được áp dụng cho phẫu thuật xoang. Kỹ thuật này cho phép phẫu thuật viên có thể định vị được chính xác các vị trí trong khi nội soi bằng hình ảnh CT scan đã được chụp trước khi phẫu thuật. CAS cung cấp những thông tin quan trọng về cấu trúc giải phẫu của bệnh nhân do đó nó sẽ làm giảm các nguy cơ và làm tăng hiệu quả của cuộc phẫu thuật.

Hình ảnh cuốn mũi giữa nhìn qua nội soi


Chú thích hình:

Middle Turbinate: cuốn mũi giữa

Septum: vách ngăn

Right: bên phải

Middle Meatus: khe mũi giữa

Đây là hình ảnh cuốn mũi giữa bên phải của bệnh nhân. Phía bên phải đã được chú thích trên hình. Cuốn mũi giữa là cấu trúc bình thường của thành bên hốc mũi. Nếu khám mũi theo cách thông thường thì bác sĩ sẽ không thể nhìn thấy được cuốn mũi giữa thật sự nhưng một bác sĩ tai mũi họng có thể dùng ống nội soi mũi để quan sát kỹ lưỡng cấu trúc này. Điều này rất quan trọng vì chỉ cần sưng nhẹ ở khu vực này cũng có thể gây ra viêm xoang.

Viêm xoang cấp nhìn qua nội soi

Chú thích hình:

Middle Turbinate: cuốn mũi giữa

Pus: mủ

Inferior Turbinate: cuốn mũi dưới

Nội soi mũi có thể được dùng để chẩn đoán viêm xoang cấp. Ở ví dụ này, ta có thể nhìn thấy mủ chảy ở bên dưới cuốn mũi giữa. Chất dịch này sẽ chảy ra ngoài gây ra triệu chứng chảy nước mũi. Nội soi mũi có thể phát hiện được nguyên nhân là từ xoang nào và có thể xác định được chẩn đoán viêm xoang. Ngoài ra, nội soi còn có thể dùng để dẫn đường giúp cấy mủ. Việc cấy mủ này sẽ cung cấp những thông tin quan trọng giúp bác sĩ có thể cho kháng sinh phù hợp.

Tuần hoàn mủ của xoang hàm nhìn qua nội soi

Chú thích hình:

Edema: phù nề

Pus: mủ

Antrostomy: lỗ thông xoang hàm nhân tạo

Natural Ostium: lỗ thông xoang hàm tự nhiên

Bệnh nhân này được chẩn đoán là viêm xoang mãn mặc dù đã được phẫu thuật trước đó. Trong hình ta có thể nhìn thấy mủ chảy ra từ lỗ thông tự nhiên của xoang hàm. Sau đó nó quay lại vào bên trong xoang hàm qua lỗ thông nhân tạo được tạo ra trong lúc phẫu thuật. Hiện tượng này được gọi là tuần hoàn mủ trong xoang hàm. Nó xảy ra khi xoang hàm cố gắng đẩy mủ ra ngoài qua lỗ thông tự nhiên ngay cả khi phẫu thuật viên đã tạo thêm một lỗ thông mới ở một vị trí khác. Có thể phẫu thuật nội soi lại lần nữa để điều trị.

Polyp mũi nhìn qua nội soi

Chú thích hình:

Uncinate process: mỏm móc

Septum: vách ngăn

Right: bên phải

Middle turbinate: cuốn mũi giữa

Đây là hình ảnh polyp mũi. Nó bít đầy khe mũi giữa. Mỏm móc là một mốc quan trọng. Ở hình này mỏm móc trông có vẻ bất thường, nó lớn hơn bình thường do bị polyp đẩy về phía trước.

Theo American Rhinologic Society - Y học NET dịch

Girls Generation - Korean