Friday, March 20, 2009

VIÊM TỤY CẤP

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

I.
Chẩn đoán viêm tụy cấp:

Triệu chứng cơ năng:

-Đau bụng: hầu hết bệnh nhân viêm tụy cấp có đau bụng. Cơn đau viêm tụy cấp thường xảy ra sau bữa ăn thịnh soạn hay sau tiệc rượu.

5 đặc điểm đau bụng trong viêm tụy cấp:

▪Khởi đầu cấp tính và đạt mức tối đa sau 5-10 phút (đau như xé). Tính chất này có thể làm lầm lẫn với một số trường hợp cấp cứu khác như thủng dạ dày.

▪Mức độ đau trung bình nặng, ít khi đau nhẹ. Có thể gập người ra trước bớt đau nhưng khi xoay trở tìm tư thế giảm đau không có kết quả.

▪Đau liên tục.

▪Đau bụng vùng thượng vị, thường lan ra sau lưng(50%) cũng có khi đau lan toàn bụng trên, đôi khi lan ra ngực trái và vai trái.

▪Đau kết thúc sau 3-5 ngày nếu không có diễn tiến nặng thêm.

Trong viêm tụy cấp gây ra bởi bệnh lý đường mật triệu chứng xảy ra sau một thời gian ngắn (vài giờ) sau một bữa ăn thịnh soạn. Ngược lại viêm tụy cấp do rượu đau thường bắt đầu từ 12-24 giờ sau khi uống rượu nhiều.

-Nôn: nôn là triệu chứng thường thấy trong viêm tụy cấp, nôn thường xuất hiện một thời gian ngắn sau khi đau, nôn nhiều lần hoặc liên tục. Nôn không làm giảm đau. Chất nôn có thể là thức ăn hoặc dịch vì nôn ngay cả khi dạ dày trống, đặc biệt không có chất nôn giống như phân trong tắc ruột.

Triệu chứng thực thể:

-Bụng chướng: bụng chướng lan toả do liệt ruột. Sự giãn của các quai ruột và sự phù nề của tụy và các cơ quan quanh tụy đẩy dạ dày ra trước làm cho bụng chướng đầy và có thể khám thấy một khối vùng thượng vị.

-Cảm ứng phúc mạc: dùng các đầu ngón tay ấn nhẹ vào thành bụng, bệnh nhân rất đau.

-Phản ứng thành bụng: khi sờ nắn nhẹ nhàng, thành bụng vẫn mềm. Khi ấn mạnh dần, tới một lúc nào đó, thành bụng cứng lại ngăn cản bàn tay khám không cho ấn sâu hơn, vì ấn sâu hơn sẽ đau. Phản ứng thành bụng và cảm ứng phúc mạc trong viêm tụy cấp tìm thấy ở thành bụng vùng trên rốn. Chỉ khi dịch xuất tiết nhiều di chuyển xuống vùng hạ vị và lan khắp bụng thì ta mới thấy phản ứng thành bụng lan toả khắp bụng.

-Dấu hiệu Turner: xuất hiện khi viêm tụy cấp nặng có chảy máu, máu và dịch xuất tiết lan qua cân sau thận ra vùng hông lưng trái, làm đổi màu da vùng hông lưng trái.

-Dấu hiệu Cullen: viêm tụy cấp có xuất huyết máu từ thành bụng chạy theo dây chằng tròn, dây chằng liềm đến vùng mô mỡ tiền phúc mạc vùng quanh rốn gây đổi màu da vùng quanh rốn.

-Hồng ban ở da

-Điểm đau Mayo-Robson: trong viêm tụy cấp khi ấn vào điểm giao nhau của xương sườn 12 và bờ ngoài khối cơ lưng bên trái bệnh nhân sẽ rất đau.

-Tiếng nhu động ruột giảm hoặc mất hẳn

-Vàng da, vàng mắt: một phần do sỏi gây nghẹt mật thường có kèm dãn ống mật chủ, do phù nề đầu tụy gây nên hẹp phần cuối ống mật chủ, ngoài ra vàng da cũng có thể do huyết tán

-Dấu co rút ngón tay: xảy ra trong viêm tụy cấp có hạ canxi máu nặng

-Dấu hiệu suy hô hấp cấp: ít gặp, thể hiện với mạch nhanh, khó thở, tím tái. Nguyên nhân của SHH cấp có thể do tràn dịch màng phổi trái, xẹp phổi, hay suy tim ứ huyết.

Triệu chứng toàn thân:

-Sốt: 90% bn viêm tụy cấp có sốt, thường sốt nhẹ, chỉ sốt cao trong thể viêm tụy cấp hoại tử.

-Mạch nhanh và huyết áp thấp: trong viêm tụy cấp nhẹ, mạch hơi nhanh và huyết áp có thể bình thường hay chỉ giảm nhẹ. Trong viêm tụy cấp nặng có hội chứng shock do mất nước, mất máu vào khoang sau phúc mạc và vào ổ bụng. Do đó mạch sẽ nhanh từ 100-140 lần/phút, huyết áp sẽ thấp, huyết áp tối đa sẽ dưới 80mmHg và bn thở nhanh nông trong viêm tụy hoại tử xuất huyết. Như vậy dấu hiệu sinh tồn gồm: mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở của bn trong viêm tụy cấp rất quan trọng trong theo dõi diễn tiến bệnh.

-Viêm tụy hoại tử xuất huyết gây shock và thường đưa đến suy thận cấp.

-Những triệu chứng thần kinh: trong thể viêm tụy cấp nặng, bn bứt rứt luôn thay đổi thế nằm hoặc nằm im lìm. Bn có thể tỉnh táo hoặc lú lẫn. Có thể rối loạn phương hướng, kích động, nói nhảm, co cứng hoặc nặng hơn là hôn mê.

Cận lâm sàng:

Sinh hoá
:

-Amylase máu: tăng cao từ 2-12 giờ đầu và trở lại bình thường sau 3-4 ngày.

-Amylase niệu: tăng và tồn tại lâu hơn.

Amylase máu dương tính giả cao chiếm tỷ lệ 1/3 trường hợp. Amylase máu còn tăng trong các bệnh: viêm túi mật cấp, sỏi túi mật có hay không kèm tình trạng viêm mật quản, xoắn ruột non, tắc ruột, ngộ độc rượu, tắc quai đến sau cắt dạ dày kiểu Billroth II, thai ngoài tử cung vỡ, thủng ổ loét dạ dày tá tràng, suy thận, ung thư đầu tụy, quai bị. Ngoài ra có 10% viêm tụy cấp nhưng amylase không tăng cao(âm tính giả)

Tăng amylase niệu đơn thuần không dùng chẩn đoán viêm tụy cấp.

-Tỷ lệ thanh thải amylase creatinine: là 1 tỷ lệ có giá trị trong chẩn đoán viêm tụy cấp:

Amylase niệu/amylase máu * creatinine máu/creatinine niệu * 100

Bình thường tỷ lệ này là 1-4%

>6% là viêm tụy cấp

>12% là viêm tụy cấp nặng.

Tuy nhiên trong viêm tụy cấp cũng có trường hợp tỷ lệ này bình thường và cũng dương tính giả trong các bệnh suy thận, thủng dạ dày, ung thư tụy, bỏng…

-Amylase dịch ổ bụng: thường rất cao từ 6000-10000 đơn vị Somogyi trong ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 của bệnh.

-Lipase máu thường tăng.

-Đường huyết tăng.

-Nồng độ canxi máu giảm, nếu ít hơn 7.5mg% là viêm tụy cấp nặng.

♦Trong viêm tụy cấp do nguyên nhân sỏi mật ta còn thấy:

-Bilirubin tăng

-Alkaline phosphatase tăng

-AST tăng và có rối loạn đông máu.

-Bạch cầu thường tăng cao > 10000/mm3

-Hct nếu giảm thấp là dấu hiệu bệnh trở nặng có hoại tử xuất huyết.

Chẩn đoán hình ảnh:

-X-quang bụng không chuẩn bị: 2/3 số trường hợp viêm tụy cấp có hình ảnh bất thường:

+Quai ruột đơn độc (quai gác cổng) là đoạn hỗng tràng đầu tiên căng giãn ở phần trên bụng.

+Đại tràng ngang chướng và có hơi.

+Có thể thấy lắng đọng canxi trong tuyến tụy hay sỏi tụy, sỏi túi mật cản quang.

+Thấy rõ bóng cơ thắt lưng do phù nề sau phúc mạc.

-X-quang phổi: có thể thấy tràn dịch màng phổi trái, cơ hoành trái bị đẩy cao lên.

-Siêu âm:

Kích thước tụy to ra do phù nề và ranh giới của tụy mờ, thấy hình ảnh ống tụy giãn, sỏi tụy, dịch quanh tụy và dịch trong ổ bụng, hình ảnh áp-xe tụy, nang giả tụy, sỏi trong đường mật và trong túi mật, ống mật chủ giãn.

-CT scanning:

Kích thước tụy to do phù nề, đường viền giới hạn quanh tụy bị mờ. Nếu nặng thấy hình ảnh hoại tử với hoá lỏng lớp nhu mô tụy. Có dịch quanh tụy, chụp cắt lớp còn giúp phát hiện những biến chứng như áp-xe, nang giả tụy, hoặc hoại tử xuất huyết.

-MRI

-Chụp qua nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP): không có vai trò tiêu chuẩn chính để chẩn đoán bệnh viêm tụy cấp mà chỉ có mục đích tìm được nguyên nhân của viêm tụy cấp.

♦Chẩn đoán phân biệt: có nhiều bệnh cần chẩn đoán phân biệt với viêm tụy cấp, những bệnh này cũng đau bụng và amylase máu cũng tăng.

· Thủng dạ dày tá tràng

· Sỏi mật

· Tắc ruột

· Tắc mạc treo ruột

II.Nguyên nhân:

· Rượu

· Sỏi mật: từ túi mật, đường mật, sỏi bùn.

· Nguyên nhân khác:

ü Tăng lipid máu

ü Tăng calci máu

ü Yếu tố gia đình

ü Chấn thương bụng, trong lúc phẫu thuật hay trong các thủ thuật nội soi và chụp mật tụy ngược dòng

ü Thiếu máu cung cấp tụy do huyết áp thấp, thuyên tắc mạch, viêm mạch máu.

ü Thuốc: Azathioprine, estrogen, Thiazidee diuretics, Furosemide, Sunfonamides, Tetracycline, corticosteroids…

ü Nghẹt ống tụy chính do bướu, trong tụy phân chia, nghẹt bóng vater, lãi đũa lên tụy gây tổn thương tụy, nghẹt tá tràng, nhiễm siêu vi và những trường hợp không rõ nguyên nhân.

III.Biến chứng:

1. Biến chứng sớm:

· Trụy tim mạch: do bệnh nhân bị mất nước và rối loạn điện giải.

· Biến chứng ở phổi: có thể là xẹp phổi, tràn dịch màng phổi, viêm phổi và hội chứng nguy kịch hô hấp cấp (ARDS).

· Biến chứng suy thận: mất nước nội mạch trầm trọng và hoại tử ống thận cấp có thể gây suy thận.

· Xuất huyết tiêu hoá: có thể do viêm dạ dày do stress, vỡ túi phình giả động mạch, dãn vỡ tĩnh mạch tâm vị do huyết khối tĩnh mạch lách.

2. Biến chứng muộn:

· Mô tụy hoại tử: Là thể nặng của viêm tụy cấp.

Mô tụy hoại tử có thể nhiễm trùng với các biểu hiện như đau bụng tăng, sốt cao, tăng bạch cầu nhiều và vi khuẩn máu. Mô tụy hoại tử nhiễm trùng trong viêm tụy cấp thường xảy ra sau 3-4 tuần

· Nang giả tụy:

Có hình bầu dục hay hình tròn xuất hiện 4-6 tuần sau khi bị viêm tụy cấp. Nang tụy có thể ở trong tụy nhưng thường ở ngoài tụy và nằm ở hậu cung mạc nối. Nang giả tụy thường có biểu hiện là đau bụng dai dẳng và tăng cao amylase máu.

Biến chứng của nang giả tụy: nhiễm trùng làm thành áp-xe nang giả tụy, xuất huyết, dịch tụy trong ổ bụng, và tắc nghẽn những cấu trúc kết cận.

· Nhiễm trùng:

Những nguyên nhân gây nên sốt cao trong viêm tụy cấp bao gồm: hoại tử mô tụy, áp-xe, nang giả tụy nhiễm trùng, viêm đường mật, viêm phổi hít.

· Túi phình giả động mạch:

Có thể thông vào hệ thống ống tụy gây nang máu tụy gây xuất huyết tiêu hoá qua nhú tá lớn hay vỡ vào ổ bụng gây xuất huyết trong ổ bụng.

· Thuyên tắc tĩnh mạch lách.

· Dò tụy vào ống tiêu hoá:

· Nang giả tụy hoặc vùng tụy hoại tử có thể ăn mòn dò vào ruột non, tá tràng, dạ dày, đường mật, đại tràng góc lách.

· Biến chứng chuyển hoá: hạ canxi máu, hạ magnesium máu, tăng đường huyết.

IV.Tiên lượng của Ranson:

Các dấu hiệu đánh giá sớm dự hậu của viêm tụy cấp không do sỏi mật

Các dấu hiệu lúc nhập viện

Trong 48 giờ đầu

Tuổi >55

Bạch cầu > 16000/Cu.mm

Đường huyết > 200mg/100ml

LDH > 350 IU/L

AST > 250 IU/100ml

Hct giảm >10%

BUN tăng > 5mg/100ml

Calci máu giảm <>2 <>5mEq/L

Dịch tụ đọng ước tính > 6L

Các dấu hiệu đánh giá sớm dự hậu của viêm tụy cấp do sỏi mật

Các dấu hiệu lúc nhập viện

Trong 48 giờ đầu
Tuổi >70
Bạch cầu > 18000/Cu.mm
Đường huyết > 220mg/100ml
LDH > 400 IU/L
AST > 250 IU/100ml
Hct giảm >10%
BUN tăng > 2mg/100ml
Calci máu giảm <>5mEq/L
Dịch tụ đọng ước tính > 4L

Theo tiên lượng của Ranson:
Số dấu hiệu tiên lượng
Cách xử trí
Tỉ lệ tử vong
1-2
Điều trị đơn giản
0%
3-4
Một nửa số trường hợp cần điều trị tích cực tại đơn vị săn sóc đặt biệt
15%
5-6
Cần điều trị tích cực tại đơn vị săn sóc đặt biệt
50%
>7

Cần điều trị tích cực tại đơn vị săn sóc đặt biệt + can thiệp phẫu thuật
>50%

Ở những bệnh nhân nặng điều trị tại đơn vị săn sóc đặc biệt có đầy đủ máy theo dõi huyết động học, bồi hoàn dịch và điện giải. Điều trị kháng sinh để phòng ngừa biến chứng nhiễm trùng, thẩm phân phúc mạc và serum ribonuclease activity được gợi ý sử dụng trong trường hợp hoại tử chủ mô tụy.

V.Điều trị:

Viêm tụy cấp có chỉ định can thiệp ngoại khoa trong 4 trường hợp sau:

· Chưa loại được các bệnh ngoại khoa cấp cứu khác

· Viêm tụy cấp đã có nhiễm trùng thứ phát

· Viêm tụy cấp có nguyên nhân sỏi mật

· Viêm tụy cấp có diễn tiến xấu dù điều trị nội khoa tích cực.

-Nhiễm trùng thứ phát trong viêm tụy cấp thường gặp là áp xe tụy, nang giả tụy nhiễm trùng, hoại tử tụy nhiễm trùng. Điều trị bằng phương pháp kết hợp điều trị kháng sinh với phẫu thuật cắt lọc mô hoại tử và dẫn lưu.

-Viêm tụy do sỏi mật:

+Bệnh nhân đã có tiền căn viêm túi mật, có cơn đau quặn mật thì có chỉ định cắt túi mật.

+Bệnh nhân không viêm túi mật, sỏi túi mật không triệu chứng, chỉ có sỏi trong đường mật gây nhiễm trùng đường mật và gây viêm tụy cấp thì không cần cắt túi mật, mà làm ERCP để lấy sỏi bằng kĩ thuật cắt mở rộng cơ vòng lấy sỏi. Tuy nhiên nếu viêm tụy cấp do sỏi túi mật tái diễn thì có chỉ định cắt bỏ túi mật

v Điều trị nội khoa:

Điều trị tiêu chuẩn gồm:

Ø Đặt thông mũi dạ dày: có tác dụng:

· Giảm chướng bụng

· Bớt nôn mửa

· Làm giảm acid ở dạ dày→giảm tiết dịch tụy

· Giải quyết tình trạng liệt ruột( dễ đưa đến ói và hít dịch vào đường hô hấp)

Ø Bồi hoàn nước, điện giải:

Viêm tụy cấp thiếu nước và rối loạn điện giải vì ói, mất nước qua tụ dịch trong bụng và bệnh nhân không ăn uống, hậu quả là huyết áp thấp do giảm thể tích, rối loạn điện giải đưa đến rối loạn kiềm toan, làm Hct tăng.

Bồi hoàn nước điện giải qua đường truyền tĩnh mạch và theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm.

Ø Điều trị giảm đau:

Bệnh nhân đau bụng nhiều cần dùng thuốc giảm đau như Meperidine, hạn chế dùng Morphin vì có tác dung co thắt cơ vòng Oddi

Ø Về dinh dưỡng:

Nếu bệnh nhân không thể ăn trong thời kì viêm cấp cần nuôi ăn qua đường tĩnh mạch các dung dịch đạm, lipid… để tăng cường năng lượng.

Ø Dùng các thuốc ngăn chặn tiết ra các men ngoại tiết của tụy như:

§ Thuốc ức chế H2, thuốc kháng acid dạ dày

§ Atropin, Somatostatin, Octreotide

§ Glucagon, Calcitonin

Ø Về kháng sinh phòng ngừa:

Qua 3 nghiên cứu độc lập cho thấy kháng sinh rất cần thiết trong viêm tụy nặng có nhiễm trùng nhưng không cần thiết dùng kháng sinh trong viêm tụy cấp thể nhẹ và vừa.

Ø Về thẩm phân phúc mạc qua các nghiên cứu gần đây cho thấy là không cần thiết trong viêm tụy cấp thể vừa.

v Điều trị biến chứng:

Ø Điều trị trụy tim mạch:

Cần có đường truyền tĩnh mạch trung tâm hay Swan-Ganz monitoring catheter, theo dõi sát Hct, áp lực tĩnh mạch trung tâm, cung lượng tim qua mornitor, theo dõi sát mạch, huyết áp và lượng nước tiểu.

Ø Biến chứng ở phổi: cần thông tốt đường hô hấp qua hút đàm dãi, hỗ trợ thở bằng oxy. Nếu nặng cần giúp thở bằng máy thở.

Ø Biến chứng suy thận: nếu điều trị lợi tiểu không hiệu quả cần phải chạy thận nhân tạo.

Ø Biến chứng xuất huyết tiêu hóa: dùng thuốc ức chế H2 hay thuốc ức chế bơm proton, xử trí bằng thủ thuật hay phẫu thuật như các bệnh lí này không phải nguyên nhân do tụy.

Ø Điều trị tụ dịch quanh tụy:

-Tụ dịch quanh tụy không nhiễm trùng thường tự khỏi và không cần điều trị

-Tụ dịch nhiễm trùng tạo dịch mủ có hay không có mô hoại tử cần được mổ mở hay nội soi để lấy hết mủ và mô hoại tử rồi dẫn lưu. Kháng sinh có chỉ định dùng phối hợp.

Ø Điều trị mô tụy hoại tử:

-Mô tụy hoại tử không nhiễm trùng: có 2 ý kiến: không cần thiết phải mổ và mổ lấy mô hoại tử, dẫn lưu.

-Mô tụy hoại tử nhiễm trùng: thường xảy ra sau 3-4 tuần. Phẫu thuật lấy hết mô hoại tử nhiễm trùng và dẫn lưu kết hợp đưa hỗng tràng ra da để nuôi ăn, có thể mổ lại để lấy mô hoại tử tiếp sau vài ngày cho đến khi hết mô hoại tử. Kháng sinh có chỉ định điều trị phối hợp. Một số phương pháp khác được đề xuất như kết hợp kháng sinh với dẫn lưu bằng catheter qua da. Phẫu thuật lấy mô hoại tử qua nội soi. Dùng kháng sinh kết hợp lấy mô hoại tử tối thiểu, nhưng các phương pháp này ít hiệu quả.

Ø Điều trị nang giả tụy:

Đa số tự khỏi không cần điều trị.

Điều trị khi nang có triệu chứng do lớn dần hay có biến chứng, tùy theo vị trí nang:

+Nang ở đuôi tụy thì phẫu thuật cắt đuôi tụy chứa nang

+Đa số các nang giả tụy lớn và có triệu chứng được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật hay nội soi nối nang với ống tiêu hóa như:

+Nối nang với dạ dày, tá tràng bằng nội soi xuyên nhú tá lớn hay mổ hở nối nang với dạ dày, nối với tá tràng hay với ruột non bằng phương pháp Roux-en-Y

+Những bệnh nhân mổ mở có nguy cơ cao thì thủ thuật nối nang với ống tiêu hóa qua nội soi được chọn ưu tiên.

+Nang giả tuy dính trực tiếp vào dạ dày, tá tràng có thể được chẩn đoán xác định bằng siêu âm qua nội soi, qua đó cũng xác định không có mạch máu lớn giữa nang và thành dạ dày hay tá tràng. Có thể dẫn lưu nang qua nội soi bằng đường rạch từ thành sau của dạ dày hay thành trong của tá tràng xuyên vào nang, có thể đặt 1 ống thông qua đường rạch thông nối này.

+Dẫn lưu qua nhú tá lớn có thể áp dụng cho bệnh nhân với nang ở đầu tụy nhờ sự trợ giúp của CT Scan hay siêu âm qua nội soi, trong lúc làm ERCP có thể đặt 1 stent từ nang xuyên qua nhú tá lớn. Tuy nhiên dẫn lưu nang qua nhú tá lớn có thể gây nhiễm trùng ngược dòng từ đường tiêu hóa vào nang.

+Nội soi đặt Stent giải áp gián tiếp giữa nang giả tụy với ống tụy kế cận nang.

+Mổ mở nối nang với hỗng tràng kiểu Roux-en-Y, nối nang dạ dày bên- bên hay nối nang với tá tràng bên- bên.

+Mổ nối nang với dạ dày, tá tràng có thể thực hiện qua nội soi ổ bụng.

Ø Điều trị áp xe tụy:

Điều trị áp xe tụy giống như điều trị tụ dịch nhiễm trùng trong viêm tụy cấp, mổ lấy hết mủ mô hoại tử và dẫn lưu.

Ø Điều trị dịch tụy ổ bụng:

+Điều trị nội khoa: đặt thông mũi dạ dày kết hợp với thuốc làm giảm tiết dịch tụy như dùng hormon ức chế tiết dịch tụy Somatostatin, 50-60% điều trị nội khoa có hiệu quả trong 2-3 tuần. Dịch tụy trong ổ bụng vẫn tồn tại hay tái phát thì áp dụng phương pháp điều trị bằng nội soi hay phẫu thuật.

+Điều trị bằng ERCP, qua nội soi cắt cơ vòng Oddi có thể đặt stent ống tụy chính xuyên cơ vòng để dẫn lưu dịch tụy vào tá tràng

+Điều trị phẫu thuật: qua ERCP nếu xác định ống tụy ở phần thân, đuôi tụy vỡ vào ổ bụng thì cắt bỏ thân và đuôi tụy hoặc nối tụy ruột non kiểu Roux-en-Y nếu tổn thương vỡ ống tụy ở đầu và cổ tụy.

Ø Điều trị dò dịch tụy lên phổi: tương tự như trên.

Ø Điều trị viêm tụy cấp gây túi phình giả động mạch: bằng phương pháp làm thuyên tắc mạch, đặc biệt túi phình giả ở đầu tụy. Túi phình giả động mạch ở đuôi tụy thì mổ cắt bỏ đuôi tụy.

Ø Điều trị dò tụy vào ống tiêu hóa: không cần điều trị. Nếu kèm theo chảy máu hay nhiễm trùng thì phải can thiệp phẫu thuật. Phương pháp điều trị dò tụy vào ống tiêu hóa tương tự như điều trị bệnh lí dò ống tiêu hóa.

Ø Điều trị viêm tụy cấp gây thuyên tắc tĩnh mạch lách:

Thuyên tắc tĩnh mạch lách có tỉ lệ 10% gây xuất huyết vào ổ bụng do thuyên tắc gây trướng mạch vì tăng áp lực và vỡ. Điều trị chỉ phẫu thuật cắt lách cầm máu khi có biến chứng chảy máu. Cắt lách phòng ngừa trong thuyên tắc tĩnh mạch lách không thật sự cần thiết.

Tuesday, March 17, 2009

Trĩ

Trĩ là bệnh trong đó các tĩnh mạch ở hậu môn và trực tràng bị sưng và viêm. Tình trạng này có thể do thường xuyên rặn quá mức trong khi đi ngoài hoặc do tăng áp lực ở các tĩnh mạch này trong khi mang thai và một số nguyên nhân khác.

Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng của trĩ thường tuỳ thuộc vào vị trí

· Trĩ nội: Bình thường không nhìn thấy hoặc cảm thấy búi trĩ. Nhưng khi rặn hoặc kích thích do phân đi qua có thể gây tổn thương bề mặt búi trĩ và gây chảy máu. Đôi khi việc rặn mạnh có thể khiến búi trĩ nội sa ra ngoài hậu môn.

· Trĩ ngoại: Dạng trĩ này thường gây đau. Đôi khi máu có thể ứ lại trong búi trĩ ngoại và tạo thành cục máu đông, gây đau, sưng và viêm. Khi bị kích thích, búi trĩ ngoại có thể bị ngứa hoặc chảy máu

Nguyên nhân

Trĩ có thể xảy ra do tămg áp lực trong các tĩnh mạch ở đầu dưới trực tràng. Những nguyên nhân hay gặp nhất gây tăng áp lực và gây trĩ là:

· Táo bón dẫn đến phải rặn nhiều

· Tiêu chảy và phải tống phân ra ngoài liên tục

· Ngồi nhiều hoặc đứng lâu, nhất là khi thường xuyên ngồi toilet lâu do táo bón

· Béo phì

· Thai nghén và sinh đẻ

Xét nghiệm và chẩn đoán

Trĩ ngoại có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Trĩ nội có thể được phát hiện bằng thăm trực tràng, nhưng đôi khi thăm trực tràng không giúp đưa ra chẩn đoán xác định vì trĩ nội thường rất mềm và khó phát hiện.

Ccs xét nghiệm kiểm tra phần dưới của đại tràng gồm soi hậu môn, soi trực tràng hoặc soi đại tràng sigma. Kiểm tra rộng hơn gồm soi đại tràng ống mềm để kiểm tra toàn bộ đại tràng. Xét nghiệm này giúp loại trừ những tổn thương gây chảy máu không chỉ ở trực tràng mà còn ở toàn bộ đại tràng.

Điều trị

- Điều trị nội

Nếu búi trĩ chỉ gây khó chịu đôi chút, có thể dùng các loại kem hay thuốc mỡ bôi tại chỗ hoặc corticoid, kết hợp với tắm nước ấm hằng ngày để làm giảm triệu chứng

- Điều trị ngoại:

Thắt búi trĩ. Bác sĩ sẽ dùng dây cao su thắt quanh gốc búi trĩ nội để cắt đứt tuần hoàn máu và làm búi trĩ xẹp đi.

Tiêm xơ: tiêm hóa chất vào xung quanh mạch máu để làm búi trĩ thu nhỏ lại.

Chiếu tia hồng ngoại để cắt đứt tuần hoàn máu ở những búi trĩ nội nhỏ chảy máu.

Phẫu thuật cắt búi trĩ trong trường hợp các biện pháp khác không có kết quả hoặc búi trĩ lớn.

Kẹp búi trĩ ngăn không cho máu chảy đến búi trĩ. Đây là phương pháp khá mới và có một số nhược điểm như gây nguy cớ tái phát và sa búi trĩ cao hơn cơ với phẫu thuật mở.

Phòng bệnh

· Ăn nhiều chất xơ

· Uống nhiều nước

· Thường xuyên tập thể dục

· Tránh ngồi nhiều hoặc đứng lâu

· Tránh rặn mạnh và nhịn thở khi đi ngoài.

· Đi ngoài ngay khi cần. Nhịn đi ngoài lâu sẽ khiến cho phân khô và khó rặn.

theo http://www.cimsi.org.vn



Viêm ruột thừa

Ruột thừa là một đoạn ruột nhỏ có hình ngón tay, một đầu dính vào đại tràng và thường nằm ở góc bên phải phía dưới của ổ bụng (hố chậu phải). Viêm ruột thừa là tình trạng ruột thừa bị viêm và chứa đầy mủ.

Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng hay gặp nhất là đau âm ỉ quanh rốn và sau đó khu trú ở hố chậu phải. Khi các tổ chức xung quanh ruột thừa cũng bị viêm, đau có thể trở nên rõ ràng và dữ dội hơn.

Những triệu chứng khác có thể gặp bao gồm:

· Buồn nôn và đôi khi có nôn

· Chán ăn

· Sốt nhẹ sau khi các dấu hiệu và triệu chứng khác xuất hiện

· Táo bón

· Không trung tiện

· Tiêu chảy

· Chướng bụng

Nguyên nhân

Nguyên nhân của viêm ruột thừa còn chưa rõ. Đôi khi viêm ruột thừa là hậu quả của tình trạng bã thức ăn hoặc sỏi phân bị mắc kẹt trong lòng ruột thừa. Ruột thừa có thể bị viêm sau một nhiếm trùng (vi khuẩn hoặc virus), khiến cho vi khuẩn thâm nhập nhanh chóng làm ruột thừa bị viêm và đầy mủ. Nếu không được điều trị đúng, ruột thừa có thể bị vỡ.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Chẩn đoán viêm ruột thừa trên lâm sàng chủ yếu dựa vào sờ nắn để phát hiện các dấu hiệu phản ứng thành bụng và co cứng thành bụng. Ngoài ra một số xét nghiệm sau có thể giúp cho chẩn đoán:

· Xét nghiệm máu: tăng số lượng bạch cầu là một dấu hiệu cho thấy có nhiễm trùng

· Xét nghiệm nước tiểu để loại trừ nguyên nhân đau bụng do nhiễm trùng đường tiết niệu hoặc sỏi thận.

· Xét nghiệm hình ảnh. Chụp X quang bụng hoặc siêu âm sẽ giúp xác nhận chẩn đoán viêm ruột thừa hoặc phát hiện các nguyên nhân khác gây đau. Chụp cắt lớp vi tính (CT) cũng được sử dụng trong chẩn đoán viêm ruột thừa.

Biến chứng

Biến chứng nặng nề nhất của viêm ruột thừa là vỡ ruột thừa gây viêm phúc mạc. Khi ruột thừa bị vỡ, bệnh nhân đột nhiên thấy đỡ đau, nhưng ngay sau đó bụng trở nên chướng, căng và đau lan ra khắp bụng chứ không khu trú ở vùng hố chậu phải nữa. Ngoài ra bệnh nhân sẽ có biểu hiện sốt cao, khát nước và tiểu ít. Viêm phúc mạc ruột thừa là một cấp cứu ngoại khoa rất nặng đòi hỏi phải được xử trí kịp thời.

Điều trị

Viêm ruột thừa cấp cần được phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa. Việc cắt ruột thừa có thể được thực hiện qua đường mổ mở hoặc bằng phẫu thuật nội soi. Nhìn chung phẫu thuật nội soi giúp bệnh nhân phục hồi nhanh hơn và ít để lại sẹo. Tuy nhiên nếu ruột thừa đã vỡ và gây viêm phúc mạc thì cần đường mổ mở đủ lớn ở thành bụng để kiểm tra và rửa sạch toàn bộ ổ bụng. Sau mổ bệnh nhân được dùng kháng sinh đường tĩnh mạch và theo dõi tại bệnh viện cho đến khi liền vết mổ.

theo http://www.cimsi.org.vn



Tưa miệng (Bệnh nấm Candida miệng)

Tưa miệng là bệnh trong đó nấm Candida albicans phát triển vượt khỏi tầm kiểm soát ở niêm mạc miệng. Bệnh hay gặp nhất ở trẻ nhỏ, người già và người bị suy giảm miễn dịch do bệnh hay do thuốc.

Dấu hiệu và triệu chứng

Những đám màu trắng mịn trên lưỡi, trong má và đôi khi cả ở vòm miệng, lợi và amiđan, có thể đau và chảy máu khi bị cọ xát. Tổn thương có thể lan xuống thực quản (viêm thực quản do Candida) gây ra các triệu chứng như nuốt đau hoặc nuốt khó, cảm giác thức ăn bị mắc lại ở cổ hoặc ở ngực và sốt.

Triệu chứng ở trẻ dưới 1 tuổi và ở phụ nữ nuôi con bú

Triệu chứng ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh thường xuất hiện trong vài tuần đầu, ngoài những đám tổn thương màu trắng rải rác trong miệng, trẻ có thể khó bú và quấy khóc. Trẻ cũng có thể làm lây bệnh sang mẹ trong khi bú. Phụ nữ cho con bú bị nhiễm Candida có thể có những triệu chứng sau:

- Núm vú đỏ hoặc nhạy cảm bất thường

- Da ở quầng vú căng và đỏ rực

- Đau núm vú

- Cảm giác đau ở sâu khi cho con bú.

Nguyên nhân

Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch bị suy yếu không kiểm soát được sự phát triển của nấm trên cơ thể. Hệ miễn dịch có thể bị suy yếu do bệnh hoặc do các thuốc như prednisone. Hoặc do kháng sinh phá vỡ sự cần bằng tự nhiên của vi sinh vật trên cơ thể.

Xét nghiệm và chẩn đoán

- Lấy mẫu tổn thương soi dưới kính hiển vi

- Nuôi cấy bệnh phẩm ngoáy họng

- Nội soi kiểm tra thực quản trong trường hợp nghi viêm thực quản do Candida.

- Chụp X quang thực quản có thuốc cản quang

Điều trị

- Ở trẻ khỏe mạnh không bị bệnh gì khác có thể không cần điều trị. Nếu bệnh xảy ra do dùng kháng sinh có thể cho trẻ ăn thêm sữa chua để phục hồi sự cân bằng vi khuẩn tự nhiên. Trẻ bị bệnh dai dẳng có thể cần dùng thuốc chống nấm.

- Ở trẻ còn đang bú mẹ cần điều trị cho cả mẹ và trẻ để tránh lây nhiễm. Có thể dùng thuốc chống nấm nhẹ cho trẻ và kem chốgn nấm để bôi vào đàu vú người mẹ. Nếu trẻ bú bình cần rửa sạch đầu ti của bình hằng ngày.

- Ở người lớn khỏe mạnh có thể điều trị bằng cách ăn sữa chua hoặc uống acidophilus dạng viên nang hoặc dung dịch. Sữa chua và acidophilus không tiêu diệt nấm nhưng giúp phục hồi vi khuẩn chí bình thường trong cơ thể. Nếu cách này không hiệu quả bác sĩ có thể kê đơn thuốc chống nấm.

- Ở người lớn bị suy giảm miễn dịch, bệnh được điều trị bằng thuốc chống nấm dạng viên hoặc dung dịch, liệu trình thường từ 10 – 14 ngày. Trong trường hợp người bị nhiễm HIV giai đoạn muộn Candida albicans đã kháng với các thuốc chống nấm khác, có thể dùng amphotericin B.

Phòng bệnh

- Ăn thêm sữa chua hoặc uống viên nang acidophilus khi phải dùng kháng sinh.

- Điều trị ngay bệnh nấm âm đạo sau khi mang thai hoặc sinh đẻ.

- Bỏ thuốc lá.

- Đi khám răng thường xuyên 6 – 12 tháng một lần.

- Hạn chế đường và những thực phẩm có chứa nấm men, gồm bánh mì, bia và rượu vang. Những thực phẩm này có thể tạo thuận lợi cho sự phát triển của nấm Candida.

theo http://www.cimsi.org.vn



Bệnh rubella

Rubella, còn được gọi là bệnh sởi Đức, là một bệnh dễ lây do virus đặc trưng bởi những nốt phát ban màu đỏ trên da. Bệnh thường lành tính. Tuy nhiên ở phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu, virus có thể gây tử vong hoặc khuyết tật nặng cho thai nhi.

Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng thường xuất hiện 2 – 3 tuần sau khi tiếp xúc với virus, và thường kéo dài 2 – 3 ngày, bao gồm:

  • Sốt nhẹ 39oC trở xuống
  • Đau đầu
  • Hắt hơi hoặc chảy nước mũi
  • Mắt viêm đỏ
  • Hạch sưng to, đau ở vùng cổ, sau gáy và sau tai
  • Những nốt phát ban nhỏ màu hồng bắt đầu từ mặt và nhanh chóng lan ra xuống thân, tay và chân, sau đó hết theo đúng thứ tự đó.
  • Đau nhức khớp, nhất là ở phụ nữ trẻ.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây bệnh rubella là một loại virus lây từ người sang người qua ho, hắt hơi, qua tiếp xúc trực tiếp với chất tiết của người bệnh hoặc lây từ mẹ sang thai nhi. Bệnh có thể lây từ 1 tuần trước khi phát ban đến 1 – 2 tuần sau khi đã ban đã lặn hết.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Phát ban do rubella rất giống với nhiều loại phát ban do virus khác. Vì vậy chẩn đoán xác định thường dựa vào nuôi cấy virus hoặc xét nghiệm máu để phát hiện kháng thể kháng rubella trong máu. Sự có mặt của kháng thể cho biết người bệnh đang hoặc đã từng nhiễm rubella hoặc đã tiêm vaccin.

Điều trị

Không có thuốc điều trị nào để rút ngắn diễn biến của bệnh. Và triệu chứng thường là nhẹ không cần điều trị.

Nếu bệnh xảy ra khi mang thai, cần hỏi ý kiến bác sĩ về những nguy cơ đối với em bé. Nếu bệnh nhân muốn tiếp tục giữ thai, có thể tiêm kháng thể hyperimmune globulin để chống lại virus. Cách làm này có thể giảm nhẹ triệu chứng nhưng không hoàn toàn loại trừ nguy cơ bị hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ.

Phòng bệnh

  • Vaccin rubella thường được tiêm ở dạng phối hợp 3 vaccin sởi-quai bị-rubella (vaccin MMR). Vaccin được tiêm cho trẻ từ 12 - 15 tháng tuổi và tiêm nhắc lại khi trẻ được 4 – 6 tuổi. Việc tiêm vaccin là đặc biệt quan trọng đối với các bé gái đề đề phòng bệnh xảy ra sau này khi mang thai.
  • Không nên tiêm vaccin cho:

- Phụ nữ có thai hoặc dự định sẽ có thai trong vòng 4 tuần tới

- Người có phản ứng dị ứng nặng với gelatin hoặc kháng sinh neomycin.

- Người bị ung thư, bệnh máu hoặc bệnh ảnh hưởng đến hệ miễn dịch cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiêm vaccin.

theo http://www.cimsi.org.vn



Sốt rét

Sốt rét là một bệnh nhiễm ký sinh trùng lây truyền từ người này sang người khác do muỗi đốt. Bệnh gây ra những cơn sốt kèm theo rét run tái diễn và có thể gây tử vong.


Dấu hiệu và triệu chứng

Bệnh đặc trưng bởi những cơn tái diễn với các dấu hiệu và triệu chứng sau:

  • Rét run từ vừa đến nặng
  • Sốt cao
  • Toát mồ hôi đầm đìa khi hết sốt
  • Cảm giác khó ở

Các triệu chứng khác gồm đau đầu, buồn nôn, nôn, tiêu chảy.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây bệnh sốt rét là ký sinh trùng đơn bào plasmodium. Có khoảng 170 loài plasmodium, nhưng chỉ có 4 loài gây sốt rét ở người là:

  • P. falciparum. Chủ yếu gặp ở châu Phi, gây triệu chứng nặng nhất và chiếm phần lớn các trường hợp tử vong do sốt rét.
  • P. vivax. Chủ yếu gặp ở vùng nhiệt đới của châu Á, gây triệu chứng nhẹ hơn những có thể tồn tại trong gan và gây tái phát bệnh trong nhiều năm.
  • P. malariae. Được phát hiện thấy ở châu Phi, có thể gây triệu chứng sốt rét điển hình nhưng trong một số ít trường hợp có thể nằm yên trong máu mà không gây triệu chứng. Bệnh nhân có thể làm lây ký sinh trùng sang người khác qua vết đốt của muỗi hoặc qua truyền máu.
  • P. ovale. Chủ yếu gặp ở vùng Tây Phi. Tuy hiếm gặp nhưng cũng có thể gây bệnh tái phát.

Xét nghiệm và chẩn đoán

- Xét nghiệm kính phết: Lấy máu làm tiêu bản nhuộm và soi dưới kính hiển vi để tìm ký sinh trùng. 2 mẫu máu lấy cách nhau 6 giờ có thể xác nhận sự có mặt của ký sinh trùng sốt rét là loại ký sinh trùng. Cùng một lúc người bệnh có thể bị nhiễm nhiều loại plasmodium khác nhau.

Điều trị

Bệnh sốt rét, nhất là sốt rét do nhiễm P. falciparum, cần được khám và điều trị kịp thời. Các thuốc chống sốt rét hiện nay gồm

  • Chloroquine
  • Quinine sulfate
  • Hydroxychloroquine
  • Phối hợp sulfadoxine và pyrimethamine
  • Mefloquine
  • Phối hợp atovaquone và proguanil
  • Doxycycline

- Một nhóm thuốc khác thường được kê đơn ở châu Á hiện nay là các dẫn xuất của artemisinin, ví dụ như artesunate.

- Halofantrine đôi khi cũng được dùng để điều trị sốt rét. Không dùng halofantrine cho người đang dùng mefloquine để phòng sốt rét hoặc người bị bệnh tim.

- Primaquine có thể được dùng để chống lại dạng ký sinh trùng ẩn trong gan và phòng ngừa tái phát. Không dùng thuốc cho phụ nữ có thai hoặc người bị thiểu men G6PD (glucose-6-phosphate dehydrogenase).

Phòng bệnh.

- Hiện chưa có vaccin phòng sốt rét. Cách phòng bệnh chủ yếu là ngăn không cho muỗi đốt, bao gồm nằm màn tẩm thuốc diệt muỗi và phun thuốc diệt muỗi trong nhà.

- Điều trị dự phòng bằng các thuốc chống sốt rét .

- Bôi thuốc xua côn trùng như DEET lên vùng da hở và phun thuốc diệt muỗi tại nơi ở.

- Mặc quần áo bảo hộ.

- Nằm màn khi ngủ.

theo http://www.cimsi.org.vn



Bệnh zona

Zona, còn gọi là bệnh mụn rộp hay giời leo, là một bệnh do virus varicella-zoster gây ra những nốt mụn rộp gây đau. Virus này cũng chính là virus gây bệnh thuỷ đậu. Sau khi bị thuỷ đậu, virus có thể ngủ yên trong hệ thần kinh trong nhiều năm, và sau đó hoạt động trở lại gây ra mụn rộp trong bệnh zona.

Dấu hiệu và triệu chứng

· Cảm giác đau, rát, kiến bò, ngứa, tê bì hoặc cực kỳ nhạy cảm ở một vùng nhất định của cơ thể

· Phát ban đỏ với những nốt mụn rộp chứa đầu dịch bắt đầu mọc một vài ngày sau khi bị đau

· Sốt

· Đau đầu

· Rét run

· Kích ứng dạ dày

Ban zona điển hình chỉ xảy ra ở một bên cơ thể. Nó thường mọc thành một dải mụn rộp từ giữa lưng vòng quanh một nửa người tới xương ức theo đường dây thần kinh mà virus cư trú. Đôi khi ban xảy ra ở một bên mắt hoặc một bên cổ hoặc mặt.

Nguyên nhân

Zona là đợt bùng phát thứ hai của virus thủy đậu (varicella-zoster virus). Bất cứ ai bị thuỷ đậu đều có thể bị zona. Nếu hệ miễn dịch không tiêu diệt hoàn toàn virus trong lần nhiễm bệnh ban đầu, virus còn lại có thể thâm nhập hệ thần kinh và nằm yên trong nhiều năm. Vì những lý do còn chưa rõ, virus có thể hoạt động trở lại và đi theo đường dây thần kinh tới da, gây ra bệnh zona. Bệnh hay gặp hơn ở người già và người bị suy giảm miễn dịch.

Xét nghiệm và chẩn đoán

- Chẩn đoán thường dựa vào tiền sử bị thuỷ đậu, các dấu hiệu và triệu chứng, nhất là dấu hiệu phát ban và mụn rộp đặc trưng.

Điều trị

Mặc dù các đợt zona thường tự khỏi, nhưng điều trị kịp thời có thể làm giảm đau, đẩy nhanh tốc độ liền vết thương và giảm nguy cơ biến chứng.

Bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc chống virus đường uống như acyclovir, valacyclovir hoặc famciclovir, bắt đầu trong vòng 48 đến 72 giờ sau khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Đôi khi thuốc chống virus được phối hợp với corticosteroid để giảm sưng và đau.

Nếu đau nhiều, nhất là trong bệnh đau dây thần kinh sau herpes, bác sĩ có thể kê đơn thuốc giảm đau. Thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc một số thuốc chống co giật cũng có thể giúp ích. Thuốc mỡ capsaicin bôi tại chỗ hoặc cao dán chứa thuốc giảm đau cũng làm giảm nhẹ triệu chứng.

Phòng bệnh

Tiêm vaccin thuỷ đậu (Varivax). Vaccin được tiêm cho cho trẻ từ 12 – 18 tháng tuổi, trẻ lớn và người lớn chưa từng tiêm vaccin.

theo http://www.cimsi.org.vn



Bệnh dại

Bệnh dại là một bệnh virus nguy hiểm ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương. Bệnh lây qua nước bọt của động vật bị nhiễm, thường là do bị cắn.


Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 1 – 3 tháng sau khi nhiễm virus, mặc dù có những trường hợp cá biệt phải 6 tháng sau mới phát bệnh. Khi đã lên cơn dại bệnh nhân hầu như chắc chắn sẽ tử vong.

Triệu chứng ban đầu thường không điển hình, bao gồm sốt, đau đầu, khó ở. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân có thể có những triệu chứng sau:

· Mất ngủ

· Lo âu

· Lú lẫn

· Liệt nhẹ hoặc liệt từng phần

· Kích động

· Hoang tưởng

· Tiết nhiều nước bọt

· Khó nuốt

· Co giật

· Sợ nước

Mức độ và vị trí của vết cắn sẽ quyết định tốc độ khởi phát triệu chứng. Vết cắn nặng ở vùng đầu sẽ gây ra cơn dại nhanh hơn nhiều so với vết cắn ở chân.

Nguyên nhân

Hay gặp nhất là do bị động vật nhiễm virus dại cắn. Một số ít trường hợp bệnh có thể lây qua nước bọt của con vật bị nhiễm khi tiếp xúc với mắt, mũi, miệng hoặc vết thương hở.

Hít phải virus dại cũng là một đường lây, nhưng chỉ gặp ở nhân viên phòng thí nghiệm.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Chẩn đoán dựa trên tiền sử bị động vật (chó mèo) nghi dại cắn. Cần bắt giữ con vật để theo dõi. Có thể tiến hành xét nghiệm mô não của con vật để xem nó có bị dại không.

Nếu người bệnh có các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh dại, có thể tiến hành một số xét nghiệm máu, nước bọt, dịch não tuỷ, mô não hoặc mô da lấy từ vùng gáy để xác định hoặc loại trừ bệnh dại.

Điều trị

- Điều trị sau khi tiếp xúc vớiị động vật nghi dại gồm tiêm 1 liều huyết thanh kháng dại và 5 liều vaccin phòng dại trong thời gian 28 ngày. Huyết thanh kháng dại và liều vaccin đầu tiên cần được tiêm càng sớm càng tốt sau khi có tiếp xúc. Huyết thanh kháng dại sẽ được tiêm vào vùng quanh vết cắn và vaccin được tiêm vào bắp tay.

Phòng bệnh

· Tiêm phòng dại cho vật nuôi đúng kỳ hạn .

· Tránh tiếp xúc với những con vật lạ, dù sống hay chết.

· Dặn trẻ không được chơi với những con vật lạ.

· Nếu bị động vật cắn hoặc liếm, cần rửa sạch vết cắn hoặc vùng tiếp xúc bằng xà phòng và nước sạch càng sớm càng tốt.

theo http://www.cimsi.org.vn

Bệnh nấm móng

Bệnh nấm móng (onychomycosis) xảy ra khi một hoặc nhiều móng bị nhiễm nấm. Bệnh chiếm khoảng một nửa số trường hợp bị bệnh ở móng, thường xảy ra khi móng phải liên tục tiếp xúc với môi trường ấm và ẩm ướt. Bệnh khó điều trị và có thể tái phát.

Dấu hiệu và triệu chứng

Có thể nghĩ đến nấm móng nếu một hoặc nhiều móng có biểu hiện:

  • Dày
  • Giòn, dễ gãy vụn
  • Biến dạng
  • Bẹt và xỉn màu, mất vẻ sáng bóng
  • Móng chuyển màu vàng, xanh, nâu hoặc đen do tích tụ các mảnh vụn bên dưới móng.

Móng bị bệnh có thể bị bong ra khỏi nền móng. Có thể có cảm giác đau nhẹ ở đầu các ngón chân ngón tay và ngửi thấy mùi hôi nhẹ ở móng.

Nguyên nhân

Bệnh do một loại nấm thuộc nhóm dermatophytes gây ra. Nhưng nấm men và nấm mốc cũng có thể gây ra bệnh. Nấm có thể xâm nhập qua những vết xước nhỏ giữa móng và nền móng và chỉ gây bệnh nếu móng liên tục phải tiếp xúc với môi trường nóng và ẩm ướt.

Nấm móng hay gặp ở móng chân hơn móng tay vì chân trường bị hạn chế trong môi trường tối, nóng và ẩm của giày. Một lý do nữa là tuần hoàn ở móng chân kém hơn ở móng tay.

Xét nghiệm và chần đoán

- Khi nghi ngờ bệnh nấm móng, bác sĩ sẽ cạo vùng móng bị bệnh để lấy mẫu đem soi kính hiển vi hoặc nuôi cấy nhằm phát hiện nấm.

Điều trị

Thuốc uống

  • Itraconazole
  • Fluconazole
  • Terbinafine

Những thuốc này giúp móng mới không bị bệnh sẽ dần dần thay thế móng cũ. Thường phải uống thuốc từ 6 – 12 tuần nhưng chỉ thấy được kết quả điều trị khi móng mới đã mọc đầy đủ. Có thể mất từ 4 – 12 tháng để loại trừ được bệnh. Không dùng thuốc cho người bị bệnh gan, suy tim ứ huyết hoặc người đang dùng một số loại thuốc khác.

- Sơn móng tay diệt nấm: Ciclopirox (Penlac) thườnndùng cho những trường hợp nhiễm nấm nhẹ. Thuốc được bôi lên vùng móng bị bệnh và da xung quanh 1 lần/ngày. Sau 7 ngày dùng cồn lay sạch những lớp cũ và bôi lớp mới. Có thể phải dùng thuốc trong tới một năm hoặc hơn để loại trừ bệnh.

- Thuốc bôi tại chỗ như econazole nitrate. Thuốc bôi tại chỗ thường không chữa khỏi bệnh nhưng có thể dùng phối hợp với thuốc uống.

Nếu móng bị bệnh quá nặng và gây đau nhiều, có thể phẫu thuật cắt bỏ móng cũ. Móng mới sẽ dần mọc lên để thay thế.

Phòng bệnh

  • Luôn giữ móng chân móng tay ngắn, khô và sạch.
  • Đi tất thích hợp: Tất làm bằng sợi tổng hợp thoát ẩm giúp giữ chân khô hơn là tất côtton hoặc tất len. Thường xuyên thay tất. Thỉnh thoảng cởi giày để chân được thoáng khí.
  • Dùng thuốc xịt hoặc thuốc bột chống nấm
  • Mang găng tay cao su khi phải ngâm tay lâu trong nước
  • Không cắt hoặc châm chích vào vùng da quanh móng
  • Không đi chân đất ở nơi công cộng.
  • Rửa sạch tay sau khi đụng chạm vào móng bị bệnh.
theo http://www.cimsi.org.vn


Girls Generation - Korean