Friday, October 31, 2008

Hơi thở hôi và cách điều trị

Thường những người mắc chứng bệnh này không biết mình có hơi thở khó ưa nếu không được người khác nói cho biết. Một cuộc điều tra cho thấy, có tới 58% người được hỏi trả lời rằng đồng nghiệp của mình có vấn đề về hơi thở.

Cần thay bàn chải theo định kỳ.Cần thay bàn chải theo định kỳ
Ảnh: jupiterimages.com

Chứng hơi thở hôi không phải là mới mẻ vì từ lâu người ta đã biết nó. Nhiều nhân vật có địa vị đứng đầu nhà nước như vua Louis 14 của Pháp, trùm phát xít Đức Hitler đều có hơi thở khó ngửi. Ngay cả nam diễn viên nổi tiếng Clark Gable cũng không tránh khỏi chứng bệnh này, khiến cho cô đào Vivian Leigh khi cùng đóng phim Cuốn theo chiều gió với ông đã kêu lên sau những cảnh hôn nhau đắm đuối: “Hơi thở của Clark thật là khó chịu".


Khoảng 90% trường hợp hơi thở khó chịu có nguyên nhân ở vùng miệng. Trong khoang miệng mỗi người có khoảng 500 loài vi khuẩn khác nhau, hoạt động phân hủy của chúng tạo ra nhiều hợp chất gây hôi như hydrosulfit (thường có trong trứng thối), dimethylsulfit (có mùi cay xộc), metylmercaptan (như mùi phân), cadaverin (mùi mục rữa). Thường thì các bệnh về răng và lưỡi là nguyên nhân gây hôi miệng như sâu răng, viêm nha chu, mang hàm giả, chân răng nhiễm trùng... Một số bệnh nhân chạy tia xạ vùng đầu cổ hoặc dùng một số thuốc giảm tiết nước bọt cũng bị khô miệng, gây hôi. Mùi hôi cũng có thể xuất phát từ mũi, từ xoang hàm (viêm xoang hàm), từ tai (viêm tai giữa), từ họng (viêm họng hạt có mủ).

Một số bệnh về hô hấp và tiêu hóa cũng làm cho hơi thở có mùi khó chịu. Nếu hôi miệng kèm theo đau bụng, vùng dưới mũi ức nóng rát, ợ chua, ợ hơi thì nên nghĩ đến khả năng “hở tâm vị” (phía trên dạ dày đóng không chặt nên mùi thức ăn trong dạ dày thoát lên). Hơi thở có mùi hôi còn có ở một số người bị rối loạn chuyển hóa, bệnh gan, bệnh nội tiết, bệnh tiểu đường (mùi hôi của aceton). Ký sinh trùng đường ruột cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh này.

Việc điều trị phải tùy theo nguyên nhân. Để làm giảm lượng hợp chất bay hơi có sulfur và vi khuẩn sinh mùi, có thể áp dụng các cách:

- Đánh răng thường xuyên, nhất là sau các bữa ăn (chú ý định kỳ thay bàn chải).

- Cạo lưỡi để loại bỏ các mảng thức ăn, vi khuẩn, các tế bào thoái hóa bám trên lưỡi, chú trọng vùng cuống lưỡi.

- Cần uống đủ lượng nước hằng ngày để bảo đảm khoang miệng luôn ẩm (hạn chế nước giải khát có đường).

- Nhai kẹo cao su có tinh dầu thơm (bạc hà) vừa làm thơm miệng vừa kích thích tuyến nước bọt tiết dịch làm khoang miệng ẩm.

Các thuốc thường được dùng chữa hơi thở hôi

Listerine: Nước súc miệng giúp sát khuẩn miệng, họng, làm mất mùi hôi miệng, làm thông cổ, tạo cảm giác thoải mái. Dùng trong các trường hợp viêm miệng, viêm lợi để khử trùng răng, miệng, họng, ngăn ngừa sự hình thành mảng bám răng và chống viêm nướu. Súc miệng (không pha loãng) ngày 2-3 lần, nhất là khi ngủ dậy và lúc đi ngủ buổi tối.

Nước súc miệng T-B: Sát trùng răng, miệng; chữa viêm họng, viêm lợi, hôi miệng, khử mùi hôi của thuốc lá, thuốc lào, hành, tỏi, các chất tanh. Súc miệng với 20-30 ml/lần, ngày 2-3 lần.

Betadine Gargle Sarget: Sát khuẩn, chống nấm, làm mất mùi hôi. Súc miệng trong 30 giây, lặp lại mỗi 2-4 giờ. Chống chỉ định: Người mẫn cảm với iod, trẻ nhỏ dưới 30 tháng. Tránh dùng cùng với các thuốc sát khuẩn khác. Tương kỵ nhất với các dẫn xuất thủy ngân.

Eucanrint: Viên chứa tinh dầu khuynh diệp, bạc hà, giúp điều trị tại chỗ các nhiễm trùng vùng miệng. Khử mùi hôi ở miệng. Ngậm 8-12 viên/ngày. Có thể gây đau bụng, buồn nôn, nôn (hiếm gặp). Tránh dùng cho trẻ nhỏ tuổi.

Stomyteol: Dùng trong các bệnh về họng và miệng, hơi thở hôi. Pha một thìa canh trong 12 ly nước ấm, rửa miệng nhiều lần/ngày, có thể dùng cách 3 giờ.

Ngoài các thuốc có bán sẵn trên thị trường, có thể tự pha lấy một số dung dịch nhằm làm thơm miệng: Lấy 20 g hoa cúc cho vào 4 cốc nước, sau đó đun sôi lên thành chè hoa cúc để uống dần; xay một ít hạt cà phê và hạt bạch đậu khấu, hãm thành một tách nước uống (không sữa, đường). Cũng có thể pha 5 giọt tinh dầu bạc hà trong 1 ly nước, súc miệng hoặc nhai lá bạc hà.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Shock điện và vai trò trong điều trị loạn nhịp

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

1. Kỹ thuật cơ bản: Bất cứ hệ thống máy sốc điện nào cũng gồm 2 phần chủ yếu:

1.1 Máy sốc điện:

Gồm các bộ phận chính sau:
- Bộ phận tạo xung điện: Chủ yếu là 1 tụ điện, dòng phóng ra có thể là dòng 1 chiều hoặc xoay chiều.
- Nút lựa chọn nấc năng lượng.
- Nút lựa chọn cho phương thức sốc đồng bộ hay sốc không đồng bộ.
(* Chú thích:
- Sốc điện không đồng bộ: Xung điện sẽ phóng ngay lập tức tại thời điểm ấn nút phóng điện.
- Sốc điện đồng bộ: Xung chỉ được phóng ra vào thời điểm của sườn xuống sóng R của QRS nhịp cơ bản của bệnh nhân.)

1.2. Màn huỳnh quang:

Cho phép theo dõi ECG và các thông số kỹ thuật cần thiết (mức năng lượng lựa chọn, tổng trở bệnh nhân, lượng điện thực sự đã phóng qua người bệnh nhân sau mỗi cú shock điện, nhịp thở, SpO2).

1.3. Bản điện cực shock điện:

- Làm bằng kim loại dẫn điện tốt và không rỉ sét (Pt).
- Đường kính min 80 - 100 mm.
- Tư thế đặt điện cực: Đáy - Đỉnh.
- Điện cực phải thoa kem dẫn điện đầy đủ, khi chuẩn bị sốc điện phải được ép trên lồng ngực để đảm bảo tiếp xúc tốt, tránh sinh nhiệt quá mức gây bỏng.

Vị trí đặt điện cực:
2. Chỉ định sốc điện:

Chia làm 2 nhóm chính

2.1. Sốc điện cấp cứu:

Áp dụng cho các rối loạn nhịp: Rung thất, nhịp nhanh thất có rối loạn huyết động.
- Thực hiện nhanh chóng, không cần gây mê, chống đông.
- Mức năng lượng dùng: bắt đầu 200J -> 300J, tối đa là 360J.
- Rung thất: Không đồng bộ.
- Nhịp nhanh thất: Đồng bộ.

2.2. Sốc điện có chuẩn bị:

- Áp dụng cho các rối loạn nhịp:
+ Rung nhĩ.
+ Cuồng nhĩ.
+ Nhịp nhanh kịp phát trên thất.
+ Nhịp nhanh thất chưa có rối loạn huyết động.

- Sốc điện chỉ được thực hiện sau khi chẩn đoán kỹ lưỡng các yếu tố dự đoán thành công, các bệnh lý nguyên nhân, chuẩn bị chống đông và phải có gây mê ngắn trong khi đánh điện.
- Phương thức sốc điện phải là đồng bộ.
- Mức năng lượng thường thấp: 25 - 50 -100 - 200 J.

3. Cơ chế của shock điện:

Trong các bệnh lý loạn nhịp kể trên, đặc biệt là rung thất, có sự khử cực lung tung, không đồng nhất của cơ tim, gây ra sự co bóp không đều của các sợi cơ, chủ nhịp (nút xoang) lúc này hòn toàn bất lực, không điều khiển được. Khi đánh sốc điện, cơ tim sẽ ngưng dẫn truyền trong 1 thời gian ngắn (vô tâm thu), tức là khử toàn bộ hoạt động điện của tim, sau đó, nút xoang sẽ phát lại chủ nhịp và cơ tim sẽ hoạt động đồng bộ trở lại.

Vì sao phải có sốc điện đồng bộ và không đồng bộ?

- Trong các rối loạn nhịp cần shock điện mà bệnh nhân vẫn còn nhịp cơ bản (rung, cuồng nhĩ; nhịp nhanh trên thất, nhịp nhanh thất), phương thức sốc điện đồng bộ giúp đảm bảo an toàn tuyệt đối cho bệnh nhân vì phóng điện ngay vào sườn xuống của sóng R, tránh vùng nguy hiểm là khoảng thời gian trước đỉnh sóng T (có thể gây nhịp nhanh thất, rung thất).

- Ngược lại, trong trường hợp BN không còn nhịp căn bản, hay rung thất, nếu để máy ở chế độ đồng bộ, có thể không thực hiện được cú sốc điện vì máy không thể xác định được sườn xuống của sóng R ở đâu!

(theo bacsi.com)

Thursday, October 30, 2008

CẤP CỨU TĂNG KALI MÁU

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

1. Chẩn đoán
1.1 Hình ảnh ECG
Biến đổi ECG trong tăng kali máu xuất hiện sớm khi kali máu > 5,5mmol/l. Người ta sử dụng ECG như là pp chẩn đoán sớm và theo dõi kết quả điều trị vì nó phản ánh khá nhạy bén và chính xác sự biến đổi của tăng kali máu(tuy nhiên hạ kali máu điện tim lại rất ít có ý nghĩa).

Mức độ nặng của tăng kali máu biểu hiện trên ECG có 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: nhịp tim chậm, trục có xu hướng chuyển trái. Sóng T cao, nhọn, hẹp đáy cân đối( T> 2/3R trên V3-V6)
- Giai đoạn 2: PQ dài ra, QRS dãn rộng
- Giai đoạn 3: Giảm biên độ sóng P và sóng R, tăng biên độ sóng S gây ra cảm giác đảo ngược đoạn ST
- Giai đoạn 4: Nếu kali máu tiếp tục tăng sẽ dẫn đến điện tim có dạng hình sin, block bó his, hội chứng adams-stockes, rung thất và ngừng tim

Thời gian điện tim chuyển từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 có thể kéo dài nhiều giờ nhưng cũng có thể rất nhanh trong vòng vài phút. Vì vậy việc phát hiện và điều trị kịp thời tăng kali máu là rất quan trọng nếu chờ đợi kết quả XN điện giải thì thường là quá muộn

1.2 Điện giải đồ
Nồng đồ kali máu > 5.5 mmol/l, nếu nồng độ kali máu ≥ 6,5mmol/l thì ính mạng bệnh nhân bị đe doạ

1.3 Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện rất muộn, do đó khi có triệu chứng lâm sàng mới được chẩn đoán và xử trí thì thừơng là quá muộn
- yếu cơ, mất phản xạ, đôi khi bị liệt
- Thờ ơ, lú lẫn, tâm thần
- Ngứa, tê, dị cảm, đặc biệt hay xuất hiện ở vùng quanh miệng và chi dưới
- Nôn mửa, ỉa chảy, đôi khi bị liệt ruột

2. Điều trị cấp cứu
2.1 Nguyên tắc:
- Nếu kali máu từ 5,5-6mmol/l: điều chỉnh bằng tiết chế, không đưa thêm kali vào cơ thể, tăng thải kali qua đường tiểu và đường tiêu hoá
- Nếu kali máu 6-6,5mmol/l: sử dụng thêm các thuốc làm giảm kali máu, chuẩn bị lọc máu
- Nếu kali máu ≥ 6,5mmol/l phải chỉ định lọc máu cấp cứu

2.2 Phương pháp:
* Sử dụng thuốc làm giảm kali máu:
- Insulin pha vào glucose 20-30%(cứ 3-5g glucose cho 1 đơn vị insulin nhanh) truyền tĩnh mạch. Lượng glucose tối thiểu phải dùng là 50-100g. Insulin có tác dụng chuyển kali ngoại bào vào dịch nội bào, do đó làm giảm kali máu.

Cần loại trừ bệnh Addison trước khi dùng insulin vì có thể gây hạ đường huyết tới mức nguy hiểm(bệnh nhân bị bệnh Addison thường có tình trạng hạ đường huyết mạn tính và tăng nhạy cảm với insulin). Không nên dùng loại dung dịch glucose quá ưu trương(40-50%) vì khi truyền tĩnh mạch sẽ gây ưu trương dịch ngoại bào nhanh, làm mất nước tế bào, do đó kali từ trong tế bào ra ngoại bào làm tăng vọt kali máu gây nguy hiểm trước khi kali máu giảm

- Bicacbonat 8,4%, dùng 50ml cho mỗi lần, tiêm tĩnh mạch. Nên chọn tĩnh mạch lớn để truyền, cần thận trọng vì có thể gây quá tải natri. Thuốc gây kìem hoá máu, có tác dụng chuyển kali từ dịch ngoại bào vào dịch nội bào làm giảm kali máu

- Thuốc kích thích beta giao cảm(đặc biệt beta 2 giao cảm như terbutaline) có tác dụng hoạt hoá bơm Natri-kali ATPase làm giảm kali máu. Người ta chưa biết liệu tăng kali máu có làm tăng giải phóng các chất kích thích beta giao cảm như khi tăng kali máu làm tăng giải phóng insulin từ tuỵ hay không. Nếu nhịp tim bệnh nhân không nhanh > 100l/p, không có tăng huyết áp thì có thể cho thuốc kích thích beta 2 giao cảm

- Calci gluconat hoặc calci clorua 0,5*1ống tiêm tĩnh mạch chậm trong 2 phút. Có thể nhắc lại sau 5 phút dưới sự giám sát của điện tim trên monitering. Calci có tác dụng đối kháng với tác dụng của tăng kali máu lên tim. Chống chỉ định tiêm calci khi bệnh nhân đang dùng digitalis

* Nếu kali máu ≥ 6,5 mmol/l hoặc kali máu tăng đã gây biến đổi điện tim giai đoạn 3,4 thì phải chỉ định lọc máu cấp cứu. Trong lúc chờ lọc máu cấp cứu vẫn phải tiếp tục dùng các biện pháp nội khoa để làm giảm kali máu, tránh nguy hiểm cho bệnh nhân

* Các biện pháp hạn chế tăng kali máu:
- Không ăn các thức ăn có nhiều kali như thực phẩm khô, thực phẩm đóng hộp, hoa quả khô, nước quả ngâm….
- Không sử dụng các thuốc có kali như penicillin potasium, kali clorua, kaleorit…
- Cắt lọc, loại bỏ các ổ hoại tử, các ổ mủ, các ổ nhiễm khuẩn
Nếu có chảy máu đường tiêu hoá cần loại nhanh máu ra khỏi đường tiêu hoá

* Các biện pháp loại kali ra khỏi cơ thể:
- Lợi tiểu thải kali: lasix tiêm tĩnh mạch, nếu lượng nước tiểu tăng sẽ giúp thải kali qua nước tiểu và nếu lượng nước tiểu đạt > 500ml nước tiểu/ngày thì nguy cơ tăng kali máu có thể được loại trừ
- Sử dụng chất nhựa resonium trao đổi ion. Đây là các hạt nhựa gắn natri khi uống vào ruột chúng nhả natri và gắn với kali không hồi phục, sau đó được đào thải theo phân ra ngoài, làm giảm hấp thu kali qua ruột. Thuốc của Pháp có biệt dược là Kayexalat dạng bột trắng, mỗi ngày uống 20-30g chia làm 2-3 lần

3. Một số điểm lưu ý
* Nguyên nhân tăng kali máu
- Bệnh nhân vô niệu: suy thận cấp, đợt tiến triển nặng của suy thận mạn, suy thận giai đoạn cuối
- Tốc độ tăng nhanh kali máu thường do các nguyên nhân nội sinh:
+ Vô niệu toan nặng( ion H trao đổi với ion K làm kali từ dịch nội bào ra dịch ngoại bào, gây tăng kali máu)
+ Tăng phá huỷ tế bào do nhiễm độc nội môi trong hội chứng ure máu cao hoặc trong cơ thể có ổ mủ, tế bào bị phá huỷ giải phóng ra kali. Chảy máu đường tiêu hoá, hồng cầu bị phân huỷ trong lòng ống tiêu hoá giải phóng nhiều kali
+ Ứ nước nội bào( Natri nội bào tăng gây chuyển kali nội bào ra ngoài)
+ Nguyên nhân ngoại sinh: do ăn các thức ăn có nhiều kali hoặc uống các thuốc có nhiều kali

* Một số yếu tố làm tăng nồng độ kali máu không phản ánh đúng tổng lượng kali trong cơ thể:

- 90% tổng lượng kali trong cơ thể ở trong dịch nội bào chỉ có 10% tổng lượng kali là ở ngoại bào. Lượng dịch ngoại bào lại chỉ chiếm có 20% tổng lượng dịch cơ thể. Do đó, dịch nội bào chính là bể chứa kali khi tổng lượng kali của cơ thể không thay đổi, chỉ cần một lượng nhỏ kali từ nội bào ra ngoại bào là có thể gây tăng nồng độ kali ở ngoại bào và ngược lại. Trong điều kiện pH máu = 7,34 thì cứ tăng hoặc giảm 150-200mmol tổng lượng kali máu sẽ tăng hoặc giảm 1mmol/l
- Nhiễm toan giảm natri máu, tăng chuyển hoá protein, ứ nước nội bào. Các yếu tố trên gây chuyển kali từ nội bào ra dịch ngoại bào làm tăng kali máu

Nhiễm kiềm, tăng natri máu, tăng glucose máu. Các yếu tố này làm chuyển kali từ ngoại bào vào nội bào làm giảm kali máu

Thuốc tim mạch

Tên
thuốc
Thuốc hoạt động như thế nào
Lý do dùng thuốc

Thuốc chống đông máu
(Còn có tên là chất pha loãng máu)
thường được kê là:
Dalteparin (Fragmin), Danaparoid (Orgaran),
Enoxaparin (Lovenox),
Heparin (various),
Tinzaparin (Innohep),
and Warfarin (Coumadin)

Giảm khả năng đóng cục trong máu. Đôi khi chúng được gọi là các chất làm loãng máu, mặc dù thật sự chúng không làm loãng máu. Thuốc này không làm tan các cục máu có sẵn. Dùng trong điều trị các trường hợp về mạch máu, tim và phổi nhất định.

Giúp ngăn việc hình thành các cục máu có hại trong các mạch máu.
Có thể ngăn các cục máu lớn lên và gây thêm nhiều vấn đề nghiêm trọng.
Thường được kê đơn để ngăn cơn đột quỵ đầu tiên hay tái phát.

Các chất hủy tiểu cầu
Thường được kê gồm: Aspirin, Ticlopidine, Clopidogrel và Dipyridamole.

Ngăn các cục máu hình thành bằng cách ngăn các tiểu huyết cầu dính lại với nhau.

Giúp ngăn máu đóng cục ở những bệnh nhân bị đau tim, đau thắt ngực không ổn định, đột qụy do thiếu máu cục bộ, TIA (chứng thiếu máu cục bộ thoáng qua, hay “đột quỵ nhỏ”) và các dạng khác của bệnh tim mạch.

Thường được kê đơn để ngăn chặn khi xuất hiện hình thành mảng nhưng chưa gây nghẽn động mạch.

Các chất ức chế Enzim chuyển đổi ngiotensin (ACE) Inhibitors
Thường được kê gồm:
Benazepril (Lotensin),
Captopril (Capoten),
Enalapril (Vasotec),
Fosinopril (Monopril),
Lisinopril (Prinivil, Zestril),
Moexipril (Univasc),
Perindopril (Aceon),
Quinapril (Accupril),
Ramipril (Altace) và Trandolapril (Mavik)

Làm giãn và giảm sức căng của các mạch máu bằng cách giảm mức độ angiotensin II. Điều này cho máu lưu thông dễ dàng hơn và làm cho tim hoạt động nhẹ nhàng và hiệu quả hơn.

Dùng trong điều trị hoặc cải thiện các triệu chứng của bệnh tim mạch gồm cao huyết áp và suy tim.

Các thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II (hay các chất ức chế)
(Còn được gọi là ARB, Các thụ thể bộ nhận Angiotensin-2)
Thường được qui định bao gồm:
Candesartan (Atacand),
Eprosartan (Teveten),
Irbesartan (Avapro),
Losartan (Cozaar),
Telmisartan (Micardis) và Valsartan (Diovan)

Ngoài việc giảm mức độ của angiotensin II (có cơ chế hoạt động như ACE inhibitors) angiotensin II receptor blockers ngăn chất này tác động lên tim và các mạch máu. Và làm cho huyết áp không tăng lên.

Dùng trong điều trị hoặc cải thiện các triệu chứng của bệnh tim mạch gồm cao huyết áp và suy tim.

Các thuốc chẹn bêta
(Còn được gọi là Beta-Adrenergic Blocking Agents)

Thường được kê gồm:
Acebutolol (Sectral),
Atenolol (Tenormin),
Betaxolol (Kerlone),
Bisoprolol
hydrochlorothiazide (Ziac),
Bisoprolol (Zebeta),
Carteolol (Cartrol),
Metoprolol (Lopressor, Toprol XL)
Nadolol (Corgard),
Propranolol (Inderal),
Sotalol (Betapace) và Timolol (Blocadren)

Giảm hoạt động của tim và lượng máu tim đẩy ra, làm hạ huyết áp và khiến tim đập chậm hơn, bớt sức ép hơn.

Được sử dụng để hạ huyết áp.
Được dùng với liệu pháp trị chứng loạn nhịp tim (nhịp tin không bình thường) và trong điều trị đau thắt ngực (đau ngực).
Được dùng để ngăn các cơn đau tim tái phát ở bệnh nhân đã đau tim.

Các thuốc chẹn kênh canxi
(còn được gọi là Các chất đối vận xanxi hay các chất chẹn canxi)
Thường được kê gồm:
Amlodipine (Norvasc, Lotrel),
Bepridil (Vascor),
Diltiazem (Cardizem, Tiazac),
Felodipine (Plendil),
Nifedipine (Adalat, Procardia),
Nimodipine (Nimotop),
Nisoldipine (Sular) và Verapamil (Calan, Isoptin, Verelan)

Làm gián đoạn sự vận chuyển canxi vào các tế bào tim và mạch máu. Có thể làm tăng sức bơm của tim và giúp các mạch máu bớt căng.

Dùng trong điều trị huyết áp cao, đau ngực (angina) do giảm lượng máu cung cấp tới cơ tim và một số chứng loạn nhịp tim (nhịp tim không bình thường)).

Thuốc lợi tiểu
(Còn được gọi là các viên thuốc trắng)
Thường được kê gồm:
Amiloride (Midamor),
Bumetanide (Bumex),
Chlorothiazide (Diuril),
Chlorthalidone (Hygroton),
Furosemide (Lasix),
Hydro-chlorothiazide (Esidrix, Hydrodiuril),
Indapamide (Lozol) và Spironolactone (Aldactone)

Giúp cơ thể loại bỏ lượng nước và muối thừa qua đường tiết niệu. Giúp giảm gánh nặng của tim. Cũng làm giảm sự tích tụ nước trong phổi và các bộ phận khác của cơ thể, như các mắt cá và chân. Các loại thuốc lợi tiểu khác nhau loại trừ dịch với tốc độ khác nhau và thông qua các phương thức khác nhau.

Được dùng để giúp hạ huyết áp.
Được sử dụng để giảm phù (edema) do lượng nước dư tích tụ trong cơ thể.

Thuốc giãn mạch
(Còn được gọi là các nitrát. Viên nén Nitroglycerin là một dạng của thuốc giãn mạch.)
Thường được kê bao gồm: Isosorbide dinitrate (Isordil),
Nesiritide (Natrecor),
Hydralazine (Apresoline), Nitrates và Minoxidil

Làm các mạch máu bớt căng và tăng lượng máu và ôxy cung cấp đến tim đồng thời giảm gánh nặng cho tim.

Có thể ở dạng viên nén có thể nuốt, nhai và bôi (kem).

Được dùng để làm giảm đau ở ngực (chứng đau thắt).

Chế phẩm của cây mao địa hoàng
(Còn được gọi là Digoxin và Digitoxin)

Thường được kê bao gồm: Lanoxin

Làm tăng lực co bóp của tim, có lợi khi bị suy tim và tim đập không đều.

Được sử dụng để làm dịu các triệu chứng của bệnh suy tim, đặc biệt khi bệnh nhân không phản ứng với thuốc ức chế ACE và thuốc lợi tiểu.
Cũng làm chậm một số loại bệnh tim đập không đều (loạn nhịp tim), đặc biệt là bệnh rối loạn tâm nhĩ.

Các thuốc statin
Các loại phổ biến của thuốc hạ cholesterol trong máu gồm có các statin, resin và
nicotinic acid (niacin), gemfibrozil và clofibrate

Có nhiều thuốc có thể hạ mức cholesterol. Các thuốc này có thể được kê riêng rẽ hay phối hợp với các thuốc khác. Chúng hoạt động trong cơ thể theo các cách khác nhau. Một số tác động lên thận, một số hoạt động trong ống ruột và một số gián đoạn sự hình thành của cholesterol tuần hoàn trong máu.

Được sử dụng để giảm cholesterol LDL (“có hại"), tăng cholesterol HDL ("có lợi") và làm giảm mức chất béo trung tính.

Nấm độc

Nấm độc Amanita

Ai cũng biết nấm là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, chứa nhiều protein, axít amin, vitamin, muối khoáng và các chất kháng sinh... thêm vào đó nấm thường có mùi vị lạ, thơm, béo đặc trưng, khác với những loại thực phẩm khác tạo ra sự hấp dẫn thu hút khẩu vị của nhiều người.

Tuy nhiên không phải nấm nào cũng ngon và bổ, trong số loại thực phẩm rất đa dạng này có nhiều loại nấm độc. Trên thế giới có khoảng 5.000 loại nấm thì chỉ có 300 loại được dùng làm thực phẩm, còn hơn 100 loại là nấm độc.

Những nấm độc thường là nấm họ Amanita và Entoloma. Nấm chứa độc tố muscarin cholin gây rối loạn tiêu hóa và trụy tim mạch; chất myceto atropin gây rối loạn thần kinh. Những người ăn phải loại nấm độc chỉ chứa muscarin thì các biểu hiện bị ngộ độc nhẹ hơn, thường chỉ là các rối loạn tiêu hóa, tăng tiết nước bọt, ra mồ hôi nhiều... sau đó bệnh nhân bình phục.

Nhưng đối với loại nấm có chứa độc tố phalin, khi ăn vào độc tố gây tử vong trong hầu hết các trường hợp. Độc tố phalin gồm 3 yếu tố: yếu tố gây tan huyết, bị phân hủy ở nhiệt độ 60oC; yếu tố gây triệu chứng thần kinh bền vững ở nhiệt độ 100oC; chất thứ 3 giống cholin, gây rối loạn tiêu hóa.

Triệu chứng ngộ độc phalin xuất hiện chậm (8-10 giờ sau ăn nấm), do đó rất nguy hiểm, vì khi có các biểu hiện lâm sàng thì các chất độc đã xâm nhập vào máu.

Triệu chứng ngộ độc vì thế trong các trường hợp biểu hiện ở các mức độ khác nhau: từ nhẹ như chỉ nôn mửa, tiêu chảy có thể lẫn máu đến đau bụng dữ dội, mồ hôi vã ra, bí đái; bệnh nhân sợ hãi, im lặng, nhưng tỉnh táo cho đến lúc chết (tử vong thường xảy ra sau 4-5 ngày kể từ lúc ăn nấm).

Làm thế nào để phân biệt nấm độc?

Có 3 phương pháp để phân biệt nấm độc: Phương pháp hóa học, phương pháp thử nghiệm trên động vật và phương pháp nhận biết hình thái. Phương pháp hóa học thường phức tạp vì đòi hỏi máy móc và hóa chất để làm xét nghiệm. Phương pháp thử nghiệm trên động vật không phải ở đâu và vào bất kỳ lúc nào cũng làm được. Phương pháp đơn giản và được ứng dụng nhiều nhất trong thực tế là nhận biết hình thái, so sánh nấm độc và nấm không độc.

Thông thường cây nấm có 3 bộ phận: Mũ, thân và chân nấm. Các loại nấm khác nhau thì hình thái, kết cấu 3 bộ phận đó cũng khác nhau. Màu sắc, mùi vị của nấm cũng rất đa dạng. Nấm độc thường có màu sắc sặc sỡ, mùi vị thối, đắng...

Đối với họ nấm Amanita:
Chúng thường có nhiều màu, từ trắng, đến vàng, nâu, xanh, lục... Đặc tính cơ bản nhất để phân biệt Amanita với các loài khác là nấm Amanita có đài (bao) ở chân nấm; còn nấm Entoloma có bào tử màu hồng.

Loại nấm Entoloma Lividum rất giống nấm rơm, chỉ khác là chân cuống không có đài nấm. Nấm Entoloma Lividum thường mọc trên bãi đất trong rừng, trên đất sét, hai ba cây một chỗ.

Mũ nấm chất thịt, hình lồi rồi phẳng, đường kính 8-20cm; bờ cuốn vào trong, màu nâu nhạt hoặc xám; giữa có núm dày và rắn; có phấn, phiến nấm rời, màu xám vàng, bao tử màu hồng xám; cuống mập và to, lúc đầu đặc đặc, sau xốp, hình ống tròn hoặc có vảy ở chân cuống, mặt có dọc trắng, vảy vàng, thịt trắng.

Khi đi hái nấm hoặc khi chế biến nấm cần lấy mẩu giấy trắng hứng bào tử nấm từ mũ nấm rơi xuống để giúp chúng ta có thể phân biệt với nấm độc.


một loại nấm độc


Nấm Coprinus atrameutarius thuộc nhóm nấm độc có triệu chứng xuất hiện sớm trước 6 giờ sau khi ăn.


Nấm Hebenoma Crustulinifrme - Triệu chứng ngộ độc thường xuất hiện muộn sau khi ăn 6 giờ.


Nấm lục - loại nấm độc nhất thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân, đặc biệt khi có mưa phùn.

Cần phải biết rằng nấm là môi trường dinh dưỡng lý tưởng cho nhiều loại vi sinh vật. Bởi vậy, đối với những loại nấm không độc, nhưng hái về để lâu mới ăn, hay nấm đã hỏng, bị nhiễm bẩn mới sử dụng cũng dễ gây ngộ độc.

Trong khi đó có một số loài nấm có chứa chất độc, nhưng chất độc đó không tan trong dịch vị dạ dày, nên cũng không gây ngộ độc. Tuy nhiên, những chất độc này lại tan trong rượu, nên nếu khi ăn nấm mà lại uống rượu thì cũng dễ bị ngộ độc.

Các phương pháp cấp cứu ngộ độc nấm

Khi bị ngộ độc nấm, nếu người bị nạn nôn mửa nhiều thì không cần rửa ruột nữa. Nếu nạn nhân chưa nôn thì phải gây nôn ra hết, rửa dạ dày bằng dung dịch tanin hoặc thuốc tím loãng, thụt tháo phân, chườm bụng, cho uống dung dịch oresol và uống than hoạt tính để giải độc (mỗi giờ uống một thìa cà phê dung dịch than hoạt tính kèm theo ít nước). Nếu có điều kiện thì tiêm thuốc trợ tim mạch. Sau khi cấp cứu, chuyển ngay nạn nhân lên tuyến trên để tiếp tục cứu chữa.

Lưu ý: Khi ngộ độc nấm tuyệt đối không được cho nạn nhân uống các loại thuốc có rượu, vì độc tố của nấm dễ tan trong rượu và ngấm rất nhanh vào máu, làm tăng thêm hiệu lực của nấm độc.

Phòng ngộ độc nấm

Nấm độc rất nguy hiểm, chúng chứa các độc tố làm tiêu hủy hồng cầu, bạch cầu, tế bào thần kinh, tế bào gan... Chỉ cần vài nấm độc lẫn trong món ăn cũng có thể gây ngộ độc, thậm chí làm chết người. Vì vậy khi khai thác, sử dụng nấm mọc tự nhiên, cần thực hiện các nguyên tắc sau:

Biết chắc chắn đây là loại nấm ăn được mới ăn. Không biết thì tuyệt nhiên không nên ăn.

Kiểm tra, xác minh nấm thật kỹ trước khi nấu, phải kiên quyết loại bỏ nấm lạ.

Khi không phải tự tay mình hái nấm hoặc chưa có người phân loại thành thạo nấm độc kiểm tra, tuyệt đối không được ăn nấm. Ở các vùng miền núi, nên hỏi rõ những người có kinh nghiệm như già làng, trưởng bản về nhận biết nấm.

Cho chó, mèo, gà ăn thử nấm nếu thấy nghi ngờ. Nếu chúng chết thì tuyệt đối không ăn.

Không nên hái nấm quá non, khi chưa xòe mũ nấm (đối với nấm tán) vì chưa thấy hết đặc điểm cấu tạo của chúng nên xác định được rõ loài.

Khi bị ngộ độc nấm, cần gây nôn ngay bằng cách như ngoáy họng, cho uống mùn thớt, uống nước giá đậu xanh rồi chuyển ngay đến trung tâm y tế gần nhất.

Theo website bộ y tế

Giảng Đường Y Khoa: Lao màng bụng

Giảng Đường Y Khoa: Lao màng bụng
Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

Bệnh sinh và các hình ảnh tổn thương giải phẫu bệnh của các thể lao màng bụng ?

Triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm của các thể lao màng bụng ?
1. Thể cổ trướng.
- Sốt nhẹ, có khi sốt cao về chiều 39 - 400.
- Mệt mỏi, đầy bụng, khó tiêu.
- Đau bụng âm ỉ, triệu chứng ko rõ ràng.
- Khám bụng thấy cổ trướng tự do.
- Hạch nhỏ, ko đau dọc cơ ức đòn chũm.
- Có thể tràn dịch màng phổi, màng tim kết hợp.
- Nặng có thể kết hợp lao màng não.

2. Thể bã đậu hóa.
- Thường sốt nhẹ về chiều.
- Đau bụng, chướng hơi, sôi bụng.
- Đi ngoài phân lỏng, vàng.
- Khám: sờ thấy mảng cứng do dính với mạc nối; gõ có chỗ đục, chỗ trong; nếu dính ở HSP dễ nhầm với gan to.

3. Thể ngạnh kết: Hiếm gặp, do xơ dính phúc mạc với các tạng trong ổ bụng.
- Triệu chứng tắc ruột, bán tắc ruột, dấu hiệu Koenig (+).
- Khám: bụng lõm, sờ thấy khối cứng nằm ngang.
- Là thể nặng có thể dẫn tới tử vong.

4. Cận lâm sàng.
- VSS tăng, BC tăng, L tăng.
- Mantoux (+).
- Sinh thiết hạch: có nang lao, tổn thương lao.
- Xét nghiệm dịch cổ trướng: dịch tiết, Protein > 30 g/l, Rivalta (+), nhiều tế bào L.
- SA, CT: dịch, hạch trong ổ bụng.
- Nuôi cấy dịch màng bụng ở môi trường Loeweinstein - Jensen hoặc Sauton 7 - 10 ngày.
- PCR dịch ổ bụng, đờm, máu bệnh nhân tìm DNA vi khuẩn lao.
- ELISA tìm kháng thể kháng lao.
- XQ phổi thấy lao tại phổi, tràn dịch màng phổi.
- SOB thấy hạt lao trên phúc mạc, viêm dính. Sinh thiết thấy nang lao điển hình.

Chẩn đoán và biến chứng của bệnh lao màng bụng ?

Điều trị lao màng bụng ?
1. Nguyên tắc.
- Diệt vi khuẩn lao.
- Điều trị sớm.
- Điều trị phẫu thuật khi có biến chứng.

2. Thuốc điều trị lao.
- Thuốc chủ yếu.
+ Rifampycin: ức chế hầu hết chủng lao. Tác dụng phụ: mẩn ngứa , VG .
+ Isonamid : td trên VK lao . Td phụ : viêm TK ngoại vi , VG .
+ Ethabutol : diệt VK lao . Td phụ : RL màu sắc , thị lực .
+ Pyzazynamid : diệt VK lao . Td phụ : ban đỏ , chán ăn , buồn nôn .

- Phác đồ điều trị với lao ngoài phổi : 2-3 tháng tấn công , 6 tháng duy trì :
+ Tấn công : Strepcomycin + Rifampycin + PZA hoặc Ethabutol + Iso + Rifampycin + PZA .
+ Duy trì : INH + Rifampycin hoặc Ethabutol + INH .

- Điều trị cổ trướng : rút dịch cổ trướng , bơm oxy vào bụng , chiếu tia cực tím chống dính 3 lần/tuần , dùng Corticoid để chống dính .

- Điều trị phẫu thuật : gỡ dính khi tắc ruột , bán tắc ruột .

- Nâng cao thể trạng : ăn tăng cường đạm và các loại sinh tố .

Giảng Đường Y Khoa: Lao màng bụng

Giảng Đường Y Khoa: Lao màng bụng
Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

Bệnh sinh và các hình ảnh tổn thương giải phẫu bệnh của các thể lao màng bụng ?

Triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm của các thể lao màng bụng ?
1. Thể cổ trướng.
- Sốt nhẹ, có khi sốt cao về chiều 39 - 400.
- Mệt mỏi, đầy bụng, khó tiêu.
- Đau bụng âm ỉ, triệu chứng ko rõ ràng.
- Khám bụng thấy cổ trướng tự do.
- Hạch nhỏ, ko đau dọc cơ ức đòn chũm.
- Có thể tràn dịch màng phổi, màng tim kết hợp.
- Nặng có thể kết hợp lao màng não.

2. Thể bã đậu hóa.
- Thường sốt nhẹ về chiều.
- Đau bụng, chướng hơi, sôi bụng.
- Đi ngoài phân lỏng, vàng.
- Khám: sờ thấy mảng cứng do dính với mạc nối; gõ có chỗ đục, chỗ trong; nếu dính ở HSP dễ nhầm với gan to.

3. Thể ngạnh kết: Hiếm gặp, do xơ dính phúc mạc với các tạng trong ổ bụng.
- Triệu chứng tắc ruột, bán tắc ruột, dấu hiệu Koenig (+).
- Khám: bụng lõm, sờ thấy khối cứng nằm ngang.
- Là thể nặng có thể dẫn tới tử vong.

4. Cận lâm sàng.
- VSS tăng, BC tăng, L tăng.
- Mantoux (+).
- Sinh thiết hạch: có nang lao, tổn thương lao.
- Xét nghiệm dịch cổ trướng: dịch tiết, Protein > 30 g/l, Rivalta (+), nhiều tế bào L.
- SA, CT: dịch, hạch trong ổ bụng.
- Nuôi cấy dịch màng bụng ở môi trường Loeweinstein - Jensen hoặc Sauton 7 - 10 ngày.
- PCR dịch ổ bụng, đờm, máu bệnh nhân tìm DNA vi khuẩn lao.
- ELISA tìm kháng thể kháng lao.
- XQ phổi thấy lao tại phổi, tràn dịch màng phổi.
- SOB thấy hạt lao trên phúc mạc, viêm dính. Sinh thiết thấy nang lao điển hình.

Chẩn đoán và biến chứng của bệnh lao màng bụng ?

Điều trị lao màng bụng ?
1. Nguyên tắc.
- Diệt vi khuẩn lao.
- Điều trị sớm.
- Điều trị phẫu thuật khi có biến chứng.

2. Thuốc điều trị lao.
- Thuốc chủ yếu.
+ Rifampycin: ức chế hầu hết chủng lao. Tác dụng phụ: mẩn ngứa , VG .
+ Isonamid : td trên VK lao . Td phụ : viêm TK ngoại vi , VG .
+ Ethabutol : diệt VK lao . Td phụ : RL màu sắc , thị lực .
+ Pyzazynamid : diệt VK lao . Td phụ : ban đỏ , chán ăn , buồn nôn .

- Phác đồ điều trị với lao ngoài phổi : 2-3 tháng tấn công , 6 tháng duy trì :
+ Tấn công : Strepcomycin + Rifampycin + PZA hoặc Ethabutol + Iso + Rifampycin + PZA .
+ Duy trì : INH + Rifampycin hoặc Ethabutol + INH .

- Điều trị cổ trướng : rút dịch cổ trướng , bơm oxy vào bụng , chiếu tia cực tím chống dính 3 lần/tuần , dùng Corticoid để chống dính .

- Điều trị phẫu thuật : gỡ dính khi tắc ruột , bán tắc ruột .

- Nâng cao thể trạng : ăn tăng cường đạm và các loại sinh tố .

Giảng Đường Y Khoa: Lao màng bụng

Giảng Đường Y Khoa: Lao màng bụng
Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

Bệnh sinh và các hình ảnh tổn thương giải phẫu bệnh của các thể lao màng bụng ?

Triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm của các thể lao màng bụng ?
1. Thể cổ trướng.
- Sốt nhẹ, có khi sốt cao về chiều 39 - 400.
- Mệt mỏi, đầy bụng, khó tiêu.
- Đau bụng âm ỉ, triệu chứng ko rõ ràng.
- Khám bụng thấy cổ trướng tự do.
- Hạch nhỏ, ko đau dọc cơ ức đòn chũm.
- Có thể tràn dịch màng phổi, màng tim kết hợp.
- Nặng có thể kết hợp lao màng não.

2. Thể bã đậu hóa.
- Thường sốt nhẹ về chiều.
- Đau bụng, chướng hơi, sôi bụng.
- Đi ngoài phân lỏng, vàng.
- Khám: sờ thấy mảng cứng do dính với mạc nối; gõ có chỗ đục, chỗ trong; nếu dính ở HSP dễ nhầm với gan to.

3. Thể ngạnh kết: Hiếm gặp, do xơ dính phúc mạc với các tạng trong ổ bụng.
- Triệu chứng tắc ruột, bán tắc ruột, dấu hiệu Koenig (+).
- Khám: bụng lõm, sờ thấy khối cứng nằm ngang.
- Là thể nặng có thể dẫn tới tử vong.

4. Cận lâm sàng.
- VSS tăng, BC tăng, L tăng.
- Mantoux (+).
- Sinh thiết hạch: có nang lao, tổn thương lao.
- Xét nghiệm dịch cổ trướng: dịch tiết, Protein > 30 g/l, Rivalta (+), nhiều tế bào L.
- SA, CT: dịch, hạch trong ổ bụng.
- Nuôi cấy dịch màng bụng ở môi trường Loeweinstein - Jensen hoặc Sauton 7 - 10 ngày.
- PCR dịch ổ bụng, đờm, máu bệnh nhân tìm DNA vi khuẩn lao.
- ELISA tìm kháng thể kháng lao.
- XQ phổi thấy lao tại phổi, tràn dịch màng phổi.
- SOB thấy hạt lao trên phúc mạc, viêm dính. Sinh thiết thấy nang lao điển hình.

Chẩn đoán và biến chứng của bệnh lao màng bụng ?

Điều trị lao màng bụng ?
1. Nguyên tắc.
- Diệt vi khuẩn lao.
- Điều trị sớm.
- Điều trị phẫu thuật khi có biến chứng.

2. Thuốc điều trị lao.
- Thuốc chủ yếu.
+ Rifampycin: ức chế hầu hết chủng lao. Tác dụng phụ: mẩn ngứa , VG .
+ Isonamid : td trên VK lao . Td phụ : viêm TK ngoại vi , VG .
+ Ethabutol : diệt VK lao . Td phụ : RL màu sắc , thị lực .
+ Pyzazynamid : diệt VK lao . Td phụ : ban đỏ , chán ăn , buồn nôn .

- Phác đồ điều trị với lao ngoài phổi : 2-3 tháng tấn công , 6 tháng duy trì :
+ Tấn công : Strepcomycin + Rifampycin + PZA hoặc Ethabutol + Iso + Rifampycin + PZA .
+ Duy trì : INH + Rifampycin hoặc Ethabutol + INH .

- Điều trị cổ trướng : rút dịch cổ trướng , bơm oxy vào bụng , chiếu tia cực tím chống dính 3 lần/tuần , dùng Corticoid để chống dính .

- Điều trị phẫu thuật : gỡ dính khi tắc ruột , bán tắc ruột .

- Nâng cao thể trạng : ăn tăng cường đạm và các loại sinh tố .

Giảng Đường Y Khoa: Lao màng bụng

Giảng Đường Y Khoa: Lao màng bụng
Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

Bệnh sinh và các hình ảnh tổn thương giải phẫu bệnh của các thể lao màng bụng ?

Triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm của các thể lao màng bụng ?
1. Thể cổ trướng.
- Sốt nhẹ, có khi sốt cao về chiều 39 - 400.
- Mệt mỏi, đầy bụng, khó tiêu.
- Đau bụng âm ỉ, triệu chứng ko rõ ràng.
- Khám bụng thấy cổ trướng tự do.
- Hạch nhỏ, ko đau dọc cơ ức đòn chũm.
- Có thể tràn dịch màng phổi, màng tim kết hợp.
- Nặng có thể kết hợp lao màng não.

2. Thể bã đậu hóa.
- Thường sốt nhẹ về chiều.
- Đau bụng, chướng hơi, sôi bụng.
- Đi ngoài phân lỏng, vàng.
- Khám: sờ thấy mảng cứng do dính với mạc nối; gõ có chỗ đục, chỗ trong; nếu dính ở HSP dễ nhầm với gan to.

3. Thể ngạnh kết: Hiếm gặp, do xơ dính phúc mạc với các tạng trong ổ bụng.
- Triệu chứng tắc ruột, bán tắc ruột, dấu hiệu Koenig (+).
- Khám: bụng lõm, sờ thấy khối cứng nằm ngang.
- Là thể nặng có thể dẫn tới tử vong.

4. Cận lâm sàng.
- VSS tăng, BC tăng, L tăng.
- Mantoux (+).
- Sinh thiết hạch: có nang lao, tổn thương lao.
- Xét nghiệm dịch cổ trướng: dịch tiết, Protein > 30 g/l, Rivalta (+), nhiều tế bào L.
- SA, CT: dịch, hạch trong ổ bụng.
- Nuôi cấy dịch màng bụng ở môi trường Loeweinstein - Jensen hoặc Sauton 7 - 10 ngày.
- PCR dịch ổ bụng, đờm, máu bệnh nhân tìm DNA vi khuẩn lao.
- ELISA tìm kháng thể kháng lao.
- XQ phổi thấy lao tại phổi, tràn dịch màng phổi.
- SOB thấy hạt lao trên phúc mạc, viêm dính. Sinh thiết thấy nang lao điển hình.

Chẩn đoán và biến chứng của bệnh lao màng bụng ?

Điều trị lao màng bụng ?
1. Nguyên tắc.
- Diệt vi khuẩn lao.
- Điều trị sớm.
- Điều trị phẫu thuật khi có biến chứng.

2. Thuốc điều trị lao.
- Thuốc chủ yếu.
+ Rifampycin: ức chế hầu hết chủng lao. Tác dụng phụ: mẩn ngứa , VG .
+ Isonamid : td trên VK lao . Td phụ : viêm TK ngoại vi , VG .
+ Ethabutol : diệt VK lao . Td phụ : RL màu sắc , thị lực .
+ Pyzazynamid : diệt VK lao . Td phụ : ban đỏ , chán ăn , buồn nôn .

- Phác đồ điều trị với lao ngoài phổi : 2-3 tháng tấn công , 6 tháng duy trì :
+ Tấn công : Strepcomycin + Rifampycin + PZA hoặc Ethabutol + Iso + Rifampycin + PZA .
+ Duy trì : INH + Rifampycin hoặc Ethabutol + INH .

- Điều trị cổ trướng : rút dịch cổ trướng , bơm oxy vào bụng , chiếu tia cực tím chống dính 3 lần/tuần , dùng Corticoid để chống dính .

- Điều trị phẫu thuật : gỡ dính khi tắc ruột , bán tắc ruột .

- Nâng cao thể trạng : ăn tăng cường đạm và các loại sinh tố .

Wednesday, October 29, 2008

Có nên dùng vitamin E hằng ngày?

Từ nhiều thế kỷ nay, vitamin E vẫn được coi là loại thuốc hữu hiệu nhất chống lại quá trình lão hóa và rất có ích cho cơ thể, từ việc chống lại những vết nhăn tới bệnh ung thư và mất trí nhớ

Vitamin E có tác dụng giúp cho tế bào phát triển bình thường, chống lão hóa, bảo vệ mô khỏi quá trình ôxy hóa, giúp tạo hồng cầu, giúp phổi và các cơ quan khác không bị ô nhiễm, ngăn ngừa sự phá hủy hồng cầu bởi các chất độc trong máu, làm chậm quá trình lão hóa ở tế bào.

Đặc biệt vitamin E thiên nhiên giúp cho da không bị khô, duy trì sự tươi mới của làn da, giúp ngăn ngừa sự xuất hiện các nếp nhăn, làm giảm bớt sự sa sút trí tuệ ở người lớn tuổi.

Nhưng nếu dùng ở liều cao, vitamin E sẽ hoạt động như chất ủng hộ ôxy hóa, gây tổn hại cho tế bào. Một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng: những người thường xuyên uống vitamin E liều cao sẽ tăng 28% nguy cơ ung thư phổi. Do đó, các chuyên gia khuyên nên bổ sung chất này từ rau quả thay vì từ thuốc.

Vitamin E có chứa trong các thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật. Có nhiều trong dầu thực vật, các loại mầm như giá đỗ, mầm thóc. Ngoài ra, vitamin E còn có trong bánh mỳ, trứng, sữa, thịt, cá.

Hiện nay nhiều người có thói quen thường xuyên uống 1 viên vitamin E mỗi ngày kéo dài trong nhiều tháng là không nên. Trường hợp ăn uống kém thì có thể bổ sung bằng thuốc uống nhưng cũng chỉ nên uống 1 – 2 tháng sau đó dừng lại, vài tháng sau mới nên dùng tiếp, và cách bổ sung an toàn nhất là ăn các loại thực phẩm có nhiều vitamin E như: dầu thực vật, các hạt nảy mầm như giá đỗ, các loại rau quả, trứng, thịt, sữa. Ngoài ra, việc bổ sung vitamin E từ thực phẩm còn cung cấp thêm các chất chống ôxy hoá khác đó là vitamin A, vitamin C và một số vi chất dinh dưỡng khác.

Tuesday, October 28, 2008

Nhận biết và xử trí ngộ độc nấm



Nấm Coprinus atrameutarius thuộc nhóm nấm độc có triệu chứng xuất hiện sớm trước 6 giờ sau khi ăn.
Chúng ta đều biết, nấm có hai loại là nấm lành và nấm độc. Nấm lành là nguồn thực phẩm bổ dưỡng và con người đã biết nó một cách chắc chắn như: nấm rơm, nấm mỡ, nấm hương, nấm linh chi...

Nấm độc lại gây hại, thậm chí gây chết người vì trong nấm có những độc tố nguy hiểm, mà người ta thường nhầm lẫn mỗi khi đi hái nấm mang về ăn, vì hình dạng của nấm rất khó phân biệt loại nào là lành, loại nào là độc.

Nước ta cũng như nhiều nước châu Á, tuy việc sử dụng nấm không nhiều như các nước châu Âu hay châu Mỹ nhưng vì có khí hậu ẩm nên là những vùng đất có rất nhiều loại nấm mọc và phát triển, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong nhiều loại nấm có thể ăn được hàm lượng dinh dưỡng đặc biệt cao, bao gồm: chất đạm, chất béo, chất xơ và đặc biệt là hàm lượng cao các chất khoáng. Vì thế, nấm được coi là một thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.

Trên thế giới hiện nay có khoảng trên 10.000 loại nấm đã được xác định danh tính, nhưng trong số đó có hàng trăm loại nấm độc. Cho dù các nhà khoa học đã có không ít công trình nghiên cứu về nấm nói chung và nấm độc nói riêng, nhưng có rất nhiều loại nấm hiện vẫn không biết vì sao nó gây độc cho người.

Nhiều người cho rằng các loại nấm có màu sắc sặc sỡ hoặc có mùi thơm đặc biệt thường là nấm độc, nhưng thực tế không phải hoàn toàn như vậy vì ngay trong những loại nấm có hình thức rất giản dị, không có mùi, thậm chí có những loại trông hoàn toàn “trong trắng” nhưng lại chứa các loại chất cực độc đối với cơ thể.

Ở nước ta, các vụ ngộ độc do ăn nấm thường xảy ra ở vùng núi phía Bắc (Hòa Bình, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái...).

Cứ vào thời điểm mùa xuân, khi có mưa phùn, thời tiết ẩm ướt nấm mọc nhiều cũng là lúc có bệnh nhân bị ngộ độc nấm.

Nhận biết ngộ độc nấm?

Nhóm nấm độc có triệu chứng ngộ độc xuất hiện sớm trước 6 giờ sau khi ăn, thậm chí sau 30 phút đến 1 giờ có biểu hiện: Tăng tiết nước bọt, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, đồng tử co (loại nấm có độc tố muscarin).

Triệu chứng ngộ độc xuất hiện chỉ sau ăn 30 phút với nôn, đỏ mắt, đau đầu, lẫn lộn, mệt, co giật (giống ngộ độc disulfiram), triệu chứng có thể kéo dài vài ngày, độc tố nấm là coprine. Độc tố nấm là psilocybin thường gây ra ảo giác, giãn đồng tử, kích thích dạ dày, ruột, đau bụng, sốt, co giật.

Các loại nấm này ít khi gây tử vong, nếu được điều trị.

Nhóm nấm độc có triệu chứng ngộ độc xuất hiện muộn (sau 6 giờ ăn) loại này rất độc và tỷ lệ tử vong cao.

Loại nấm có độc tố là amatocxin, monomethylhydrazine các triệu chứng xuất hiện muộn sau ăn từ 6-12 giờ, bao gồm: nôn, buồn nôn, đau thắt bụng từng cơn, tiêu chảy, yếu cơ, co giật, viêm gan, tan huyết... tỷ lệ tử vong cao 20-50%.

Loại nấm có độc tố là allenic norleucine (Amanita smithiana) và độc tố là orellanine (nấm cortinarius rellanus...) triệu chứng xuất hiện muộn sau một ngày tới sáu ngày sau khi ăn nấm, bao gồm: đái ít, vô niệu, suy ống thận cấp.

Xử trí thế nào?


Nấm Hebenoma Crustulinifrme
Triệu chứng ngộ độc thường xuất hiện muộn sau khi ăn 6 giờ.

Cấp cứu ban đầu: Cho uống ngay than hoạt (hay antipois - B.Mai) 1g/kg và sorbitol 1g/kg, có thể nhắc lại sau 4 giờ. Với trẻ em, tại nhà có thể gây nôn với siro ipeca sau khi ăn vài phút, rồi đưa trẻ đến bệnh viện càng sớm càng tốt.

Tại cơ sở y tế:

Hồi sức chung:
Truyền dịch duy trì huyết áp bằng natri clorua 0,9%, glucose 5%. Cho uống than hoạt (nếu chưa được uống).

Nếu có co giật cho pifridoxine 20-30mg/kg TM.

Nếu có methemoglobine cho xanh methylen 1mg/kg TM chậm liều cho cả người lớn và trẻ em.

Nếu có dấu hiệu muscarin, cho atropin 0,01-0,03mg/kg TM.

Có ảo giác cho seduxen 10mgTM.

Thuốc vận mạch (dopamin, noradrenalin) dùng khi có sốc.

Điều trị nhóm nấm độc muộn:
Theo dõi bệnh nhân từ 12-24 giờ sau ăn nấm loại amatoxin và monomethylhydrazin.

Đối với bệnh nhân nghi suy thận do nấm cortinarius, theo dõi 1-2 tuần, như sau:

* Cho than hoạt đa liều: 1g/kg uống sau mỗi 4 giờ cho cả người lớn và trẻ em.
* Sorbitol 1g/kg uống sau liều than hoạt đầu tiên (tốt nhất là uống Antipois - B.Mail).
* Rửa ruột, đại tràng nếu có thể ở giai đoạn chưa suy gan, suy thận.
* Truyền dịch glucose 5%, 10% để tăng bài niệu > 2,5lít/ngày.
* Lọc máu hấp thu và lọc máu liên tục (có suy thận).
* Thay huyết tương và lọc gan khi có suy gan.
* Các thuốc điều trị hỗ trợ gan.
* Hồi sức hô hấp, tuần hoàn và thăng bằng kiềm toan...

Phòng tránh: Không ăn nấm rừng và nấm mọc tự nhiên. Khi chưa xác định được là nấm lành hay độc nên cho súc vật ăn trước.

(health.phanvien.com)

Trong thiên nhiên có nhiều loài nấm quí, nhưng cũng có không ít nấm độc, ăn nhầm phải có thể chết người. Những nấm độc nguy hiểm nhất thường là những nấm tán thuộc giống Aminita, như nấm tán độc xanh đen (Aminita phalloides), nấm tán độc trắng (Aminita verna), nấm ruồi (Aminita muscaria), nấm độc có mũ xám tím (Aminita pantherina), v.v...

Những loài nấm này thường mọc trong rừng, ven rừng, trên các bãi cỏ, gây ra trên 90% vụ ngộ độc nấm chết người.

Để phân biệt nấm ăn với nấm độc, người ta đã có nhiều nhận xét, như nấm độc có màu sặc sỡ, có mùi hắc, v.v... nhưng thực tế không hoàn toàn đúng như thế. Có những nấm màu trắng dịu, vị thơm ngon mà vẫn rất độc như loại nấm tán độc trắng (Aminita verna).

Vì vậy không thể nhìn bề ngoài để phân biệt nấm độc với nấm ăn, mà cần có kinh nghiệm và sự hiểu biết kỹ về các loài nấm, và chỉ ăn những nấm đã được xác nhận chắc chấn là ăn được.

Có nhiều loài nấm độc, chứa nhiều chất độc khác nhau gây ra những dấu hiệu nhiễm độc nặng nhẹ khác nhau. Xu hướng hiện nay người ta chia chúng làm hai nhóm chính : Nhóm nấm độc phá huỷ cấu trúc các tế bào cơ quan và nhóm gây độc lên hệ thần kinh và tiêu hoá.

Trong nhóm thứ nhất người ta phân lập được các độc tố aminitin và phaloidin có thể phá huỷ các tế bào, nhất là tế bào gan, làm gan bị huỷ hoại nhanh chóng. Nhóm này gồm một số lớn nấm độc thuộc giống Aminita mà đại diện là Aminita phalloides

Trong nhóm nấm độc sau, người ta phân lập được nhiều chất độc, chủ yếu là chất muscarin gây độc trên thần kinh. Đại diện cho nhóm nấm này là nấm ruồi Aminita muscaria.

Nhóm thứ nhất chứa chất phaloidin rất độc đối với tế bào gan. Người ăn phải nấm này thường có triệu chứng ngộ độc muộn sau 6 giờ với hội chứng tiêu hoá (viêm dạ dày - ruột cấp, nôn, đau bụng, tiêu chảy), viêm gan hoại tử (gan to đau, vàng da) và suy thận cấp. Ngộ độc loại nấm này thường rất nặng, tử vong cao.

Nhóm thứ hai chứa chất muscarin rất độc đối với thần kinh. Các triệu chứng ngộ độc loại nấm này thường xuất hiện sớm, trong vòng 1 - 2 giờ sau khi ăn. Người bệnh có hội chứng cường phó giao cảm, đồng tử co hẹp, buồn nôn và nôn, đau bụng, tiêu chảy, vã mồ hôi, chảy nước mắt, nhiều dãi, khát nước, co giật, mạch chậm, truỵ mạch...

Để đề phòng ngộ độc nấm, tốt nhất ta chỉ ăn những loại nấm đã quen biết, chắc chắn là nấm ăn được. Tuyệt đối không ăn những nấm lạ. Những người mới ở miền xuôi lên miền núi hoặc ở những nơi khác đến, khi hái nấm phải hỏi kinh nghiệm đồng bào địa phương thật cụ thể, chắc chắn, vì thực tế rất khó phân biệt nấm ăn với nấm độc.

Ngoài ra chúng ta cần chú ý một số loài nấm ăn cũng có thể trở nên độc trong những trường hợp nấm bị ôi thiu, nấu không kỹ, hoặc khi có rượu trong máu. Vì vậy chúng ta không nên ăn nấm bị giập nát, những nấm đã ôi thiu; phải cẩn thận khi thu hái và chế biến nấm, đồng thời không nên uống rượu khi ăn nấm vì rượu làm tăng thẩm thấu độc tố nấm vào máu

(moh.gov.vn)

Phân biệt nấm độc và nấm ăn

Nhiều người quen ăn nấm, nhất là nấm hoang dã, đã có kinh nghiệm, cùng với các cơ sở nghiên cứu đã đúc kết thành bài học như sau:

Không ăn nấm có màu sắc sặc sỡ, có mùi thơm hấp dẫn vì nấm này thường là nấm độc; không ăn các loại nấm hoang dại lúc còn non, vì lúc còn non chúng rất giống nhau (giống cúc áo), khó phân biệt; không ăn loại nấm khi cắt, vết cắt có rỉ ra chất trắng như sữa; không ăn nấm quá già, nấm có nghi ngờ, không rõ địa chỉ...

Cũng có những loại nấm độc giống nấm ăn (nấm trồng), rất khó phát hiện nhưng nếu quan sát kỹ sẽ thấy gốc có bao và có vòng cổ.


Nấm Hebenoma Crustulinifrme - Triệu chứng ngộ độc thường xuất hiện muộn sau khi ăn 6 giờ.


Nấm Coprinus atrameutarius thuộc nhóm nấm độc có triệu chứng xuất hiện sớm trước 6 giờ sau khi ăn.


Nấm độc đỏ ( Amanita)

Nấm đỏ - còn gọi là nấm mặt trời, nấm diệt ruồi, có tên khoa học là Amanita muscaria Fr. Mũ nấm tròn và dẹt, màu vàng hoặc vàng da cam, trên nắp mũ có núm màu vàng, hoặc trắng, mặt dưới xòe ra như hình bánh xe, cuống nấm hơi to và thô. Nấm này chứa muscarin, một loại kiềm sinh vật, độc và các chất khác kém độc hơn.

Thời gian ủ bệnh do độc tố của nấm này là từ 1 đến 6 giờ. Triệu chứng đầu tiên là viêm dạ dày, ruột cấp, rồi nôn mửa, tiêu chảy, chảy nước dãi, đổ mồ hôi nhiều, đồng tử co lại, mất phản xạ ánh sáng. Trường hợp nặng, bệnh nhân trở nên nhợt nhạt, co quắp, tử vong khi tê liệt trung khu thần kinh hô hấp.


Nấm độc Entoloma Lividum


loại nấm độc nhất thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân, đặc biệt khi có mưa phùn

Nấm lục rất độc, nhưng lại có hình thức bắt mắt, màu trắng ngà, mập và có vị ngọt

Bổ sung nội tiết tố từ thiên nhiên

Đối mặt với tuổi tiền mãn kinh là nỗi lo của không ít phụ nữ, không chỉ vì những triệu chứng khó chịu mà còn là một cột mốc giã từ thời xuân sắc để đối mặt với tuổi già. Gần đây, các chuyên gia đã phát hiện trong nhiều thực phẩm có chứa nội tiết tố (NTT) có thể giúp phụ nữ vượt qua giai đoạn này nhẹ nhàng và vẫn giữ được vóc dáng vốn có.

NTT nữ (estrogen) giúp cho phụ nữ có được vóc dáng thắt đáy lưng ong, 3 vòng rõ rệt với làn da căng mịn, mái tóc dày óng mượt vào tuổi dậy thìì, nhưng khi ngưng hoạt động vào tuổi mãn kinh nó đem lại những điều...ngược lại. Khi bước vào tuổi tiền mãn kinh, lượng mỡ dưới bụng và vùng eo tăng, tóc rụng, khó ngủ, hay cáu gắt, hay lo lắng, hay hoảng hốt... Song song là sự gia tăng bệnh loãng xương, tim mạch...

Sự xuống cấp từng ngày của vóc dáng đã làm cho không ít phụ nữ luôn trong tình trạng bất ổn, thiếu tự tin, không tự kiểm soát được cảm xúc của mình. Sợ hết thời một số đã dùng liệu pháp bổ sung NTT để bù vào lượng NTT mà cơ thể không sản xuất nữa.

Tuy nhiên, liệu pháp này có thể mang lại nhiều tác dụng phụ như làm tăng nguy cơ ung thư vú. Cách tốt nhất, theo nhiều chuyên gia, là nên bổ sung NTT từ thiên nhiên.

Trong thiên nhiên có nhiều thực phẩm giúp bổ sung lượng NTT, mà đứng đầu bảng là đậu nành. Theo lương y Đinh Công Bảy - Hội Dược liệu TP.HCM, trong đậu nành có chứa isoflavon, có tác dụng như NTT bổ sung estrogen giúp làm giảm và phòng ngừa các triệu chứng rối loạn mãn kinh.

Các nhà khoa học Nhật Bản còn cho biết, dùng đậu nành sẽ ngăn ngừa được ung thư vú (nghiên cứu kéo dài 10 năm, trên 25.000 phụ nữ ở Nhật tuổi từ 40 - 69, những người dùng mỗi ngày 100g đậu nành không bị ung thư vú.

Kết quả nghiên cứu từ đại học Vanderbilt - Mỹ còn chứng minh, đậu nành có ảnh hưởng tích cực đối với các triệu chứng mãn kinh, đặc biệt làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và các dạng ung thư liên quan đến NTT.

Trước tuổi mãn kinh, phụ nữ ít bị bệnh tim mạch hơn nam giới cùng tuổi (nhờ NTT nữ loại bỏ các chất mỡ có hại trong máu, giữ tính đàn hồi, mềm mại của thành mạch). Tuy nhiên, sau mãn kinh, bệnh tim mạch ở phụ nữ tương đương với nam giới.

Để giúp khí huyết lưu thông tốt, trong Đông y có cây thuốc ích mẫu. Lương y Đinh Công Bảy khuyên: Ích mẫu có công dụng lưu thông khí huyết giúp phụ nữ có làn da đẹp. Đặc biệt, nếu ích mẫu kết hợp với hương phụ, ngải cứu còn có công dụng giảm các triệu chứng trong giai đoạn tiền mãn kinh: nhức đầu, cáu gắt, đau bụng...

Ích mẫu hiện đang được các công ty dược trong nước chế biến dưới dạng viên rất dễ uống. Một vị thuốc nữa cũng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch là tỏi. Tuy nhiên mùi tỏi là trở ngại lớn khiến vị thuốc này bị chê. Hiện trên thị trường đã có một số thuốc làm từ tinh chất tỏi, để lâu không có mùi.

Sau mãn kinh, phụ nữ còn phải đối mặt với lãng xương. Hậu quả lâu dài và nghiêm trọng nhất là đau nhức, tàn phế và gây tử vong cho phụ nữ cao tuổi (thiếu oestrogen xương trở nên xốp, mỏng , giòn nên rất dễ gãy, khối lượng xương mất từ 2% - 4% mỗi năm).

Do đó trong giai đoạn này phụ nữ cần ăn thực phẩm có nhiều canxi: sò, ốc, tôm, cá nhỏ, đậu nành, sữa, pho mát, trứng vịt lộn (trong trứng vịt lộn có chứa NTT thiên nhiên, canxi, còn trong rau răm có hoạt chất thực vật tương tự NTT). Bổ sung sinh tố E có thể làm giảm các triệu chứng khô da, rụng tóc...

Bác sĩ Đào Thị Yến Thủy - Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM cho biết, lượng sinh tố E cũng cần thiết trong cơ thể được đáp ứng dễ dàng nếu chế độ ăn có trọng điểm là các hạt có dầu như: mè, hướng dương, đậu phộng, dẻ, dưa, bí, rau cải, khoai lang ta, dầu thực vật, sữa, mầm ngũ cốc, lòng đỏ trứng, gan động vật... Sinh tố C giúp ngăn chặn các vết đồi mồi xuất hiện trên da, sinh tố này có trong rau màu xanh, cà chua, sơ ri...

Theo Phụ nữ

Monday, October 27, 2008

ĐẬU NÀNH VÀ SỨC KHỎE: THỰC VÀ GIẢ

Ở các nước Tây phương trong thời gian vài mươi năm trở lại đây, trong chiều hướng tìm kiếm một chiến lược giảm thiểu những bệnh như ung thư, tim mạch, tiểu đường...

Ở giới chức y tế thường kêu gọi công chúng nên giảm lượng tiêu thụ chất đạm động vật, và thay vào đó là dùng những thực phẩm được chế biến từ nguồn thực vật như rau củ hay cây trái.

Một thiểu số đã thay thế hẳn chất đạm động vật bằng chất đạm thực vật trong bữa ăn, và họ thường được gọi là "những người ăn chay" (tuy nhiên cách ăn chay của họ không hoàn toàn đồng nghĩa với ăn chay của các tu sĩ Phật giáo).

Một trong những thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong bữa ăn chay là đậu nành hay các thức ăn được chế biến từ đậu nành. Đối với những người này, họ đến với rau cải và trái cây vì họ tin rằng đây là một nguồn thực phẩm an toàn và bổ dưỡng nhất.

Nhưng ngược lại cũng có người, trong đó có một số làm việc trong ngành y tế, chất vấn khuynh hướng này, vì theo họ chưa có bằng chứng gì cho thấy đậu nành có tác dụng tích cực đến sức khỏe con người. Nhiều khi cuộc tranh luận xảy ra trên các diễn đàn khoa học trong một không khí "nóng", và một sự phân chia ý thức hệ rất rõ ràng: một bên ủng hộ, một bên chống. Trong một cuộc hội thảo ở San Francisco vào năm 1998 mà người viết bài này có tham dự, sau khi một đồng nghiệp- diễn giả từ Mayo Clinic thuyết trình về lợi và hại của đậu nành, một loạt ý kiến cực đoan ồn ào được đưa ra mà ngay cả hai vị chủ tọa cũng không điều khiển được cuộc thảo luận!

Ngay cả trong cộng đồng người Việt, một cuộc tranh cãi như thế cũng xảy ra, nhưng hình như với tính cách niềm tin cá nhân, tình cảm và cảm tính hơn là khoa học. Người thì tin rằng đậu nành là "một nguồn dinh dưỡng tuyệt hảo", nhưng cũng có người cho rằng dùng đậu nành có thể có hại đến sức khỏe. Nhưng cả hai bên đều ít hay không dẫn chứng những tài liệu khoa học, mà chỉ dựa vào một số thông tin từ internet và ý kiến của một vài vị bác sĩ trong cộng đồng. Thực ra, đứng trên phương diện biện chứng, tất cả các ý kiến cá nhân của các chuyên viên, dù là chuyên viên hàng đầu trong ngành, có giá trị khoa học rất thấp.

Mặt khác, người ta có thể tìm trên internet những thông tin để ủng hộ hay bác bỏ một quan điểm về ảnh hưởng của đậu nành rất dễ dàng, vì hiện nay có hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn, các trang nhà trên liên mạng viết về đậu nành. Thế nhưng, không phải thông tin nào trên liên mạng cũng đều có giá trị và độ tin cậy như nhau, vì không có ai hay có cơ chế gì để kiểm tra các thông tin này trước khi chúng được công bố.

Thực ra, đậu nành chỉ là một trong nhiều loại thực phẩm hàm chứa kích thích tố nữ estrogen. Gọi là "kích thích tố nữ" vì estrogen là một yếu tố hóa học chi phối đến sự phát triển sinh dục trong phụ nữ. Một trong những chức năng chính của estrogen là giúp cho các cơ quan sinh dục tăng trưởng, và làm phát triển các đặc tính nữ (như vú chẳng hạn).

Trong thời kỳ cần khả năng sinh sản, estrogen là một kích thích tố quan trọng đóng vai trò điều hòa các hoạt động sinh học của cơ thể, kể cả sinh hoạt tình dục. Nhưng sau thời kì mãn kinh (tuổi mãn kinh trung bình ở người da trắng là 49-51 tuổi), buồng trứng không còn sản xuất estrogen nữa, và gây ra một loạt thay đổi tâm sinh lí trong người phụ nữ, và dẫn đến một số bệnh mãn tính như ung thư, tiểu đường và loãng xương.

Hiện nay, một trong những phương án điều trị và phòng ngừa bệnh tật trong các phụ nữ sau thời mãn kinh là thay thế kích thích tố (hay còn gọi là HRT, hormone replacement therapy). Tuy nhiên, vài năm gần đây, kết quả của một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy HRT có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư vú trong các phụ nữ có tuổi. Và vấn đề được đặt ra là phải đi tỉm một phương án chữa trị vừa an toàn vừa hữu hiệu hơn HRT.

Phytoestrogen được xem là một trong những phương án đó. Vậy phytoestrogen là gì? Tác dụng và tác hại của nó ra sao? Bài viết này có một mục đích khiêm tốn là trả lời hai câu hỏi trên, bằng cách điểm qua một số kết quả nghiên cứu liên quan đến đậu nành nói riêng [và phytoestrogen nói chung] và sức khỏe con người đã được công bố trên các tập san y sinh học trên thế giới. Những thông tin này đều được giới nghiên cứu y khoa duyệt qua trước khi công bố, do đó, dù không tuyệt đối, nhưng là những bằng chứng khoa học có độ tin cậy cao hơn nhiều so với những thông tin trên internet [không phải từ những tập san Y-sinh học, các tổ chức có thẩm quyền] hay ư kiến cá nhân.

Nói một cách ngắn gọn, phytoestrogen là những hợp chất estrogen (kích thích tố nữ) được tìm thấy trong thực vật [1]. Có ba nhóm phytoestrogen chính: isoflavones, coumestans, và lignans. Tất cả ba nhóm phytoestrogen này có cấu trúc hóa học rất giống với estrogen và anti-estrogen [2]. Vai trò của phytoestrogen trong thực vật chưa được xác định một cách rỏ ràng, nhưng có bằng chứng cho thấy hợp chất này có chức năng chống nấm [3] hay nhuộm cây [4]. Có giả thuyết cho rằng phytoestrogen cỉẳn là một bộ phận phòng thủ của cây trong quá trỉnh tiến hóa.

Năm 1954, người ta phát hiện có 53 loại cây cỏ có chứa estrogen [5], nhưng sau này con số được tăng lên hơn 300 cây cỏ [6]. Isoflavones và counestans được ghi nhận là những hợp chất phổ thông nhất.

Bảng sau đây là ước lượng hàm lượng của phytoestrogen trong một số thực phẩm thông thường được tính ra trên đơn vị tách (một tách đo lường " metric cup " có thể tích chuẩn là 250ml):

Thực phẩm Hàm lượng phytoestrogen

Miso 120mg

Đậu nành, đỗ tương (soybeans) 80mg

Bột đậu nành (soyflour) 100mg

Tempeh 80mg

Đậu khuôn (Tofu) 80mg

Sữa đậu nành (soy milk) 40mg

Đậu hũ (Tofu yoghurt) 16mg/100g

Mì đậu nành khô (soy noodles) 8,5mg/100g

Đậu nành xanh (green soybeans) 135mg/100g

Tác dụng của phytoestrogen

Các triệu chứng sau thời kỳ mãn kinh.

Như đề cập trên, đối với phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, cơ thể không còn sản xuất kích thích tố estrogen, và dẫn đến một loạt thay đổi quan trọng về tâm sinh lí. Một số trong những triệu chứng sinh lí là nóng bừng (thường gọi là "hot flash"), khô âm hộ, viêm âm đạo. Nhưng cường độ mà phụ nữ kinh qua những triệu chứng này có thể tùy thuộc vào yếu tố văn hóa. Chẳng hạn như phụ nữ Nhật Bản ít bị những triệu chứng nóng bừng so với phụ nữ Canada. Chỉ có 4% phụ nữ Nhật Bản dùng HRT [để chế ngự các triệu chứng trên], so với 30% trong các phụ nữ người Mĩ [7]. Sự khác biệt này có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng có người cho rằng phytoestrogen là một nguyên nhân chính có thể giải thích tại sao phụ nữ Nhật Bản ít bị chứng nóng bừng hơn, và do đó ít cần đến, phụ nữ người Mĩ.

Trong một nghiên cứu trên 58 phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, với tối thiểu là 14 cơn nóng bừng hàng tuần; qua 12 tuần theo dỏi, tỉ lệ nóng bừng trong các phụ nữ được điều trị bằng bột đậu nành (phytoestrogen) (45 gram) giảm 40% so với phụ nữ không được điều trị là 25%. Tuy nhiên, mức độ khác biệt này không được xem là có ý nghĩa thống kê (tức có thể là do các yếu tố ngẫu nhiên, chứ không phải tác dụng của phytoestrogen) [8].

Loãng xương

Đối với các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, tỉnh trạng suy giảm estrogen dẫn đến tỉnh trạng mất chất xương. Tính trung bỉnh tỉ lệ bị mất chất xương khoảng 1% mỗi năm. Nhưng trong thời kỳ tiền mãn kinh, tỉ lệ này có thể cao đến 5 hay 10% mỗi năm. Giảm chất xương có thể dẫn đến dễ gãy xương hơn bỉnh thường nếu bị té hay tai nạn. Do đó, một trong những mục tiêu quan trọng của việc chữa trị bệnh loãng xương là duy trỉ chất xương sao cho không giảm trong thời kỳ sau mãn kinh. HRT là một loại thuốc có khả năng làm giảm tỉ lệ mất chất xương và phòng chống gãy xương trong phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh. Tuy nhiên, vỉ dùng HRT lâu năm có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư vú (và có thể cả bệnh tim mạch). Từ đó, một trong những hướng nghiên cứu mới là tỉm một phương cách điều trị khác an toàn hơn, vừa giảm nguy cơ gãy xương lại vừa không làm tăng nguy cơ ung thư vú hay các phản ứng phụ.

Phytoestrogen có thể ngăn ngừa tỉnh trạng mất chất xương trong các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh. Nhiều dữ kiện trong vòng 3 thập niên qua cho thấy những phụ nữ được điều trị bằng Iproflavone, một dạng isoflavones, có mức độ mất chất xương thấp hơn các phụ nữ không được điều trị bằng Iproflavone. Nhưng kết quả này vẫn còn nằm trong vòng tranh cãi, vỉ có nhà nghiên cứu cho rằng tác dụng của phytoestrogen không cao như nhiều người "cảm tỉnh viên" tưởng, nhưng họ cũng công nhận là phytoestrogen rất ít khi nào gây ra phản ứng phụ. Mặt khác vỉ chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được tiến hành theo đúng các tiêu chuẩn khoa học của thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên, nên vấn đề vẫn chưa mấy rỏ ràng.

Mới đây, một nhóm bác sĩ và khoa học gia bên Ý đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên, với 90 phụ nữ tuổi từ 47 - 57, bỉnh thường (không bị chứng loãng xương). Những phụ nữ này được chia làm 3 nhóm: 30 người không được điều trị gì cả (gọi là placebo, hay nhóm "đối chứng"); 30 người được điều trị bằng HRT 1 mg/ngày; và 30 người được điều trị bằng phytoestrogen genistein 54 mg/ngày. Sau 12 tháng điều trị, các nhà nghiên cứu ghi nhận vài kết quả chính như sau [9]

Mật độ xương đùi trong nhóm được điều trị bằng phytoestrogen genistein tăng [trung bình] 3.6%; trong khi đó, nhóm được điều trị bằng HRT, tỉ lệ tăng là 2.4%; và như có thể đoán trước được, mật độ xương đùi trong nhóm đối chứng giảm khoảng 0.7%.

Chỉ số sinh hóa tạo xương (bone formation marker), nhóm được điều trị bằng phytoestrogen genistein tăng 23% đến 29%, trong khi chỉ số này trong nhóm được điều trị bằng HRT và nhóm đối chứng lại giảm.

Về phản ứng phụ: có ba phản ứng phụ như sau: chảy máu âm hộ, đau vú (breast tenderness), và nóng bừng (hot flushes). Chảy máu âm hộ được ghi nhận 3 người trong nhóm được điều trị bằng HRT, 1 người trong nhóm phytoestrogen genistein, và 1 người trong nhóm đối chứng. Chứng nóng bừng được ghi nhận trong 12 người thuộc nhóm đối chứng, cao nhất so với nhóm HRT (chỉ 1 người) và nhóm phytoestrogen genistein (3 người). Tuy nhiên, chứng đau vú được ghi nhận cao nhất trong nhóm HRT (6 người) so với nhóm phytoestrogen genistein (3) hay đối chứng (1).

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng phytoestrogen có tác dụng tích cực đến xương trong các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, qua khả năng làm giảm hoạt động của các tế bào hủy xương và tăng hoạt động của các tế bào tạo xương.

Đứng trên khía cạnh phương pháp và ý nghĩa lâm sàng, đây là một nghiên cứu quan trọng về ảnh hưởng của phytoestrogen trong việc điều trị chứng loãng xương. Đây là lần đầu tiên một nghiên cứu về phytoestrogen trong ngành xương được tiến hành theo các tiêu chuẩn khoa học của nghiên cứu lâm sàng. Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng cho thấy phytoestrogen có thể làm cho xương phụ nữ trong và sau thời mãn kinh mạnh hơn, và làm giảm nguy cơ gãy xương. Nếu kết quả của nghiên cứu này được xác nhận bằng vài nghiên cứu độc lập khác, có thể nói trong tương lai ngành xương sẽ có một phương án mới điều trị chứng loãng xương an toàn hơn và rẻ tiền hơn với các loại thuốc hiện hành.

Ung thư

Đã từ lâu các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ khác nhau về tỉ lệ ung thư giữa các sắc dân trên thế giới là một bằng chứng cho thấy bệnh này chịu ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến môi trường hơn là các yếu tố di truyền. Tỉ lệ dân bị ung thư cao nhất thường tập trung trong các dân số có mức tiêu thụ chất béo cao, chất đạm động vật, và ít tiêu thụ chất sợi (fibre); trong khi đó tỉ lệ ung thư thường thấp ở các nước mà mức độ tiêu thụ thịt ít nhưng có mức độ tiêu thụ thực vật và rau cỏ cao, nhất là các cây cỏ có chứa phytoestrogen [10-11].

Trong thời gian gần đây, có khá nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa ung thư và thực phẩm đậu nành. Ở Nhật, những người đàn ông ăn đậu khuôn (5 lần một tuần) có tỉ lệ bị ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer) thấp hơn khoảng 50% so với đàn ông ăn đậu khuôn 1 lần hay ít hơn trong một tuần [12]. Trong một nghiên cứu trên 265,000 người Nhật trong vỉẳng 12 năm cho thấy những người ăn miso (một loại đậu khuôn) hàng ngày có nguy cơ bị ung thư dạ dày thấp hơn những người không dùng đậu nành [13-14]. Hai nghiên cứu khác ở Trung Quốc cho thấy phụ nữ dùng thực phẩm đậu nành ít (dưới 1 lần / tuần) có tỉ lệ bị ung thư phổi và ung thư vú cao gấp 2 đến 3.5 lần so với các phụ nữ dùng hàng ngày [15-16].

Trong một nghiên cứu mà đối tượng là những người Mĩ gốc Trung Quốc, Nhật Bản, và Phi Luật Tân, các nhà nghiên cứu ghi nhận một mối liên hệ nghịch chiều giữa mức độ tiêu thụ đậu khuôn và nguy cơ bệnh ung thư vú: phụ nữ dùng đậu khuôn nhiều có nguy cơ bị ung thứ vú thấp hơn phụ nữ không dùng hay dùng ít đậu khuôn [17]. Một phát hiện tương tự cũng được ghi nhận trong một nghiên cứu ở Singapore [18] và Hawaii [19].

Kích thích tố nội sinh (endogenous hormones) và kích thích tố ngoại sinh (exogenous hormones) đều có quan hệ với nhiều loại ung thư. Trong đàn ông, những người có độ kích thích tố nam (androgens) cao thường có nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt hơn những người có độ kích thích tố nam thấp. Trong phụ nữ, nguy cơ bị ung thư vú và noãn sào thường tăng theo mức độ kích thích tố nữ (hay estrogen). Tương tự những sắc dân có độ kích thích tố thấp cũng là những người có nguy cơ bị ung thư thấp [20]. Do đó, một giả thuyết được đặt ra là nếu có một hóa chất hay thực phẩm làm giảm độ kích thích tố nam và nữ thỉẢ nó cũng có thể làm giảm nguy cơ bị ung thư. Mặc dù mối tương quan giữa kích thích tố nội sinh và ung thư tỷ lệ thuận (tức là mức độ kích thích cao thỉ nguy cơ ung thư cao), nhưng mối tương quan giữa phytoestrogen và ung thư lại tỷ lệ nghịch (tức là mức độ phytoestrogen càng cao thỉ nguy cơ ung thư càng giảm).

Không ai biết tại sao lại có một "nghịch lí" như vừa nói, nhưng nhiều thí nghiệm trong chuột cho thấy phytoestrogen có khả năng làm giảm sự tăng trưởng của tế bào ung thư. Trong những nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu điều trị hai nhóm chuột (một nhóm bằng phytoestrogen, và một nhóm đối chứng tức không có thuốc nào), và cả hai nhóm đều được cho sống trong một môi trường gây bệnh ung thư. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm được điều trị bằng phytoestrogen có tốc độ phát sinh ung thư chậm hơn một cách đáng kể so với nhóm đối chứng, và điều này chứng tỏ rằng phytoestrogen có thể có tác dụng tích cực trong việc ngăn cản những bệnh ung thư tùy thuộc vào kích thích tố [21-22].

Chu kỳ kinh nguyệt

Mối liên hệ giữa phytoestrogen và ung thư vú, và giữa chu kỳ kinh nguyệt và ung thư vú là hai vấn đề thu hút một số nghiên cứu trong thời gian gần đây. Ở phụ nữ người da trắng, chu kỳ kinh nguyệt trong những người bị ung thư vú ngắn hơn khoảng 2 đến 3 ngày so với chu kỳ trong những người không bị ung thư vú [23]. Chu kỉẢ kinh nguyệt ở phụ nữ da trắng tính trung bỉnh ngắn hơn chu kỳ ở phụ nữ Á châu khoảng 2 đến 3 ngày, và sự khác biệt này được đề nghị là có liên hệ đến mức độ tiêu thụ đậu nành trong người Á châu cao hơn trong người Tây phương nói chung [24-25]

Trong một nghiên cứu nhỏ trên cho 6 phụ nữ dùng sữa đậu nành trong vòng 1 tháng, các nhà nghiên cứu ghi nhận chu kỳ kinh nguyệt tăng lên khoảng 3 ngày. Nhưng vỉ nghiên cứu này quá nhỏ và không có một nhóm đối chứng nên chưa thể xem là một bằng chứng đáng tin cậy [26]. Trong một nghiên cứu khác lớn hơn [27], các nhà nghiên cứu không ghi nhận ảnh hưởng nào của sữa đậu nành đến chu kỳ kinh nguyệt. Do đó, dựa theo các dữ kiện đang có, chúng ta chưa thể kết luận được là phytoestrogen có khả năng kéo dài chu kỳ kinh nguyệt, và chu kỳ kinh nguyệt tương đối dài trong phụ nữ Á châu chắc không phải do ảnh hưởng của phytoestrogen [28].

Bệnh tim mạch

Bằng chứng y học thu thập trong khoảng 30 năm qua cho thấy phytoestrogen có ảnh hưởng tích cực chống lại các bệnh tim mạch. Đã từ lâu, giới nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ người Á châu, những người có mức độ tiêu thụ rau cải nhiều, bị bệnh tim mạch ít hơn người da trắng Tây phương [29-30].

Trong phụ nữ người da trắng, estrogen là một kích thích tố được xem là có tác dụng phòng chống nguy cơ bị bệnh tim mạch. Phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh dùng estrogen (hay HRT) có nguy cơ bị bệnh tim mạch thấp hơn phụ nữ không dùng estrogen [31-33]. Mối quan hệ giữa phytoestrogen và bệnh tim mạch chưa được nghiên cứu qui mô như trong trường hợp HRT.

Tuy nhiên kết quả từ nhiều nghiên cứu mối quan hệ giữa phytoestrogen và bệnh tim mạch không hoàn toàn nhất quán, và thường mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn như một nghiên cứu báo cáo rằng chỉ số cholesterol trong các phụ nữ dùng isoflavones với 45 mg/ngày giảm một cách đáng kể so với phụ nữ không được điều trị bằng isoflavones [34]. Nhưng một nghiên cứu khác [35] trong đàn ông được điều trị bằng protein đậu nành với 60 g/ngày trong vòng 4 tuần, thỉ không ghi nhận được một ảnh hưởng tích cực nào của phytoestrogen. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cũng nói thêm rằng các đối tượng trong nghiên cứu của họ có độ cholestrol thấp, tức là cơ hội giảm cholesterol không có bao nhiêu.

Khá nhiều nghiên cứu cho thấy thay thế thức ăn động vật bằng chất đạm chế biến từ đậu nành làm giảm LDL cholesterol [36-37]. Một phân tích tổng hợp 38 nghiên cứu lâm sàng gần đây kết luận rằng đậu nành hay chất đạm chế biến từ đậu nành có khả năng giảm LDL và triglyceride [38].

Khả năng tác hại của phytoestrogen

Khả năng sinh sản. Vào thập niên 1940s, ở Tây Úc người ta thấy một số trừu có vấn đề về khả năng sinh sản, kể cả các chứng u nang trong noãn sào, và thiếu khả năng thụ tinh [39]. Sau này triệu chứng trên có tên là "Clover disease", và sau khi nghiên cứu, các nhà khoa học biết rằng chứng này do trừu ăn một loại cỏ có tên là Trifolium subterraneum (hay thường gọi là "clover", hay cỏ ba lá, cỏ clô-vơ) có chứa nhiều hàm lượng isoflavones [40]. Tác hại (hay "ảnh hưởng" thì đúng hơn) của cỏ clô-vơ trong vấn đề sinh sản sau này còn được ghi nhận trong thỏ, lợn (heo), và chuột.

Câu hỏi cần được đặt ra là một ảnh hưởng tiêu cực của isoflavones như trên có thể có trong con người hay không? Qua các nghiên cứu được công bố trong vài mươi năm qua thỉ có lẽ câu trả lời là "không". Thực ra, chưa có một nghiên cứu nào cho thấy isoflavone có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh sản trong phụ nữa trước thời kỳ mãn kinh cả. Tuy nhiên, có một nghiên cứu ở Hòa Lan báo cáo rằng các phụ nữ dùng củ tulip (có chứa nhiều phytoestrogen) ở một liều lượng lớn có thể gây ra chứng chảy máu âm hộ và vài rối loạn chu kỳ kinh nguyệt [41], nhưng vỉ nghiên cứu này quá sơ sài, nên không ai có thể kết luận được là các triệu chứng này trực tiếp liên quan đến phytoestrogen hay một yếu tố trung gian nào khác. Trong phụ nữ Á châu, những người dùng đậu nành trong một thời gian rất dài (qua nhiều thế hệ) và với liều lượng trung bỉnh, thỉ khả năng sinh sản của họ không có gì để gọi là có vấn đề.

Phát triển

Cho đến nay, tất cả các nghiên cứu về phytoestrogen và phát triển chỉ giới hạn trong các động vật cấp thấp như chuột, nhưng kết quả cũng không có gì mang tính khẳng định. Dù thế, có người đặt giả thuyết rằng (cỉẳn gọi là Sharpe-Skakebaek hypothesis) nếu trẻ sơ sinh được tiếp thu estrogen sớm có thể dẫn đến một vài biến chứng trong thời gian trưởng thành, như chất lượng tinh trùng thấp, hay nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt [42]. Nhưng trong thực tế cho đến nay, những tác hại trên chưa được ghi nhận trong bất cứ một nghiên cứu nào. Thực ra, có bằng chứng cho thấy ngược lại rằng nếu trẻ sơ sinh dùng phytoestrogen thỉ trong thời gian trưởng thành họ thường ít bị các chứng bệnh mãn tính. Ở Mĩ, sữa đậu nành đã được dùng cho trẻ sơ sinh hơn 50 năm và chưa có bằng chứng gì cho thấy nó có tác hại [43].

Một vài nhận xét

Nói chung mặc dù trong thời gian qua đã có khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa phytoestrogen và sức khỏe con người, nhưng kiến thức của chúng ta về mối quan hệ này vẫn còn rất rời rạc. Một phần lớn là vỉ gần như 95% các nghiên cứu chưa được tiến hành theo những tiêu chuẩn khoa học và nguyên tắc lâm sàng cao. Chẳng hạn như trong khoảng 100 nghiên cứu liên quan đến phytoestrogen và loãng xương, ung thư và bệnh tim mạch, chỉ có 5 nghiên cứu được liệt vào loại "thư? nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên" (tức là "Randomized controlled clinical trial"), một loại nghiên cứu mà giá trị của kết quả được đánh giá là có độ tin cậy cao nhất trong tất cả các loại nghiên cứu lâm sàng.

Tuy nhiên, điểm qua kết quả của các nghiên cứu trên chuột và con người trong thời gian qua, chúng ta có thể nói rằng tác dụng của phytoestrogen đến sức khỏe con người nói chung là tích cực và an toàn nếu dùng với một liều lượng vừa phải và trong một thời gian trung bỉnh. Những bằng chứng này cho thấy phytoestrogen có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ phận, kể cả làm giảm cholesterol, ngăn chận sự phát triển của các tế bào ung thư, giảm tỉnh trạng mất chất xương trong người, và có thể xoa dịu những triệu chứng sau thời kỳ mãn kinh như nóng bừng. Nhưng phytoestrogen cũng có một vài biến chứng phụ nếu dùng với một liều lượng cao, dù những biến chứng này nói chung là không nghiêm trọng.

Thế nào là một liều lượng trung bỉnh? Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào trả lời dứt khoát câu hỏi này. Nhưng các dữ kiện khoa học công bố trong thời gian gần đây cho thấy có lẽ dùng khoảng 30-40 mg / ngày (tức khoảng 1 ly sữa đậu nành mỗi ngày) là một liều lượng an toàn. Về thời gian dùng "an toàn", cũng chưa có câu trả lời rỏ ràng, vỉ hầu hết các nghiên cứu về tác dụng của phytoestrogen thường rất ngắn hạn, và chúng ta vẫn chưa biết được những biến chứng lâu dài. Tuy nhiên, cho đến nay, trong các sắc dân Á châu dùng phytoestrogen (đậu nành) từ thế hệ này sang thế hệ khác, chưa thấy có biến chứng nguy hiểm nào được báo cáo.

Tăng cường tiêu thụ các sản phẩm như đậu khuôn, hay rau cải cũng nằm trong một chiến lược y tế công cộng của chính phủ nhiều nước Tây phương nhằm giảm tỉ lệ dân số bị bệnh tim mạch, ung thư và loãng xương. Đối với người Việt Nam, các sản phẩm của đậu nành, như đậu khuôn, sữa đậu nành, đậu hủ là những món ăn quen thuộc, và không có lí do gì chúng ta phải từ bỏ nguồn thực phẩm lành mạnh và quan trọng này.
Nguyễn Văn Tuấn

Sunday, October 26, 2008

Rối loạn nhịp tim

Ở người lớn bình thường, chúng ta nghe thấy nhịp tim đều, tần số từ 60 chu kỳ/phút đến 100 chu kỳ/phút, trung bình 75 chu kì phút, do nút xoang làm chủ nhịp.

Gọi là rối loạn nhịp tim (RLNT) khi nhịp tim dưới 60 chu kì /phút hoặc trên 100 chu kì /phút hoặc nghe không đều.

Việc phân loại nhịp tim trên lâm sàng khá phức tạp ta dựa vào tần số (nhanh, chậm); đều hoặc không đều; ổ phát xung động ngoại lai nằm ở thất hay nhĩ.

Loạn nhịp đều

Loạn nhịp chậm đều: nhịp đều và tần số dưới 60 chu kì /phút gặp trong chậm xoang, blốc nhĩ thất cấâp II kiểu 2:1, hoặc 3:1 và blốc nhĩ thất cấp III.

Loạn nhịp nhanh đều: có thể là nhịp nhanh xoang, tần số từ trên 100 chu kì /phút đến 200 chu kì /phút; nhịp nhanh thất: trên 140 chu kì /phút đến 200 chu kì/phút.

Trong trường hợp nhịp nhanh thất, tần số tim không hề thay đổi với nghiệm pháp ấn nhãn cầu, xoa xoang cảnh. Đây cũng là điểm khác nhau với nhịp nhanh trên thất.

Chúng ta cũng nghe sự thay đổi tần số tim khi làm nghiệm pháp ấn nhãn cầu hoặc xoa xoang cảnh trong nhịp nhanh xoang, nhịp nhanh nhĩ, cuồng nhĩ.

Trong nhịp nhanh xoang, tần số tim chậm lại nhưng dần dần trở lại nhanh như trước.

Nhịp nhanh nhĩ có thể trở về nhịp xoang ngay khi làm các nghiệm pháp này.

Trong cuồng nhĩ có blốc 2:1, khi làm các nghiệm pháp này có thể chuyển sang dạng blốc 3:1, 4:1 v.v…, tần số tim chậm lại và đột ngột nhanh lên khi ngừng nghiệm pháp.

Loạn nhịp không đều có chu kì hoặc từng lúc.

Ở trẻ em và thanh niên, nhịp xoang có thể thay đổi theo chu kì hô hấp: nhanh lên khi hít vào và chậm đi khi thở ra, còn tiếng tim hoàn toàn bình thường.

Trong nhóm này, ngoại tâm thu là loại thường gặp nhất trên lâm sàng do có ổ kích thích ngoại lai nằm ở cơ nhĩ hoặc thất phát ra. Trên cơ sở nhịp đều, ta nghe có 1 nhát bóp đến sớm, mạnh và sau đó là 1 khoảng nghỉ bù. Nhát bóp ngoại tâm thu có thể rải rác hoặc đi liền nhau, hoặc xen kẽ thành nhịp đôi, nhịp 3 v.v…Chẩn đoán chắc chắn loại ngoại tâm thu dựa chủ yếu vào điện tâm đồ. Nhưng trên lâm sàng, bằng phương pháp nghe ta có thể thấy 1 số điểm khác nhau :

Tiếng thứ nhất của ngoại tâm thu thất thường bị tách đôi, nghe rõ nhất ở vùng giữa tim hoặc bờ trái xương ức.

Cường độ tiếng tim T1 thay đổi tùy thời điểm khởi đầu của ngoại tâm thu trong thời gian tâm trương : nó có thể mạnh hơn, bằng hoặc nhỏ hơn nhiều so với tiếng T1 bình thường. Tiếng T2 tách đôi thường khó nghe hơn và khu trú ở liên sườn 2 trái. Tiếng T2 có thể mờ hoặc không nghe thấy nếu ngoại tâm thu đến quá sớm.

Trong các nhát bóp ngoại tâm thu nhĩ tiếng tim không bị tách đôi bất thường.

Loạn nhịp hoàn toàn

Ta thường gặp loạn nhịp hoàn toàn nhất trong trong hẹp van 2 lá, ngoài ra có thể gặp trong cường giáp trạng, suy vành, viêm màng ngoài tim co thắt.

Trên điện tâm đồ là tình trạng rung nhĩ.
Girls Generation - Korean