Friday, June 26, 2009

Viêm tụy cấp







VIÊM TỤY CẤP

Viêm tụy cấp

1-Đại cương:

Nguyên nhân của viêm tuỵ cấp đứng đầu là rượu (35%) và sỏi mật (đặc biệt là sỏi túi mật, 38%). Các nguyên nhân khác bao gồm:

Tăng lipid huyết tương

Tăng can-xi huyết tương

Di truyền

Chấn thương (chấn thương vùng bụng, chấn thương do phẫu thuật, ERCP)

Thiếu máu tuỵ (tụt huyết áp, xơ vữa thành mạch, viêm mạch)

Tắc nghẽn ống tuỵ do u, nang, tuỵ đôi, túi thừa tá tàng, hẹp Oddi)

Tắc nghẽn tá tràng

Nhiễm trùng (vi khuẩn, virus) nhiễm ký sinh trùng, nhiễm nấm

Nọc rắn

Thuốc (sulfonamide, tatracycline, estrogen, furosemide, corticosteroids)

Không rõ nguyên nhân (10-30%)

Tổn thương của tuỵ bị viêm cấp thay đổi, từ phù nề đến hoại tử hay hoại tử xuất huyết.

Biểu hiện lâm sàng của BN bị viêm tuỵ cấp thay đổi, từ đau nhẹ vùng thượng vị đến sốc, nhiễm trùng huyết, suy đa cơ quan và tử vong.

Tuổi và giới tính: phụ thuộc vào nguyên nhân:

Rượu: nam giới, độ tuổi 40

Sỏi mật: nữ, độ tuổi 70

Viêm tuỵ cấp do sỏi mật:

Không nhất thiết phải có sỏi kẹt ở ngã ba mật-tuỵ hay Oddi. Sỏi di chuyển qua vùng này đủ gây ra viêm tuỵ cấp.

Nút sỏi bùn hay sỏi vi thể (đường kính nhỏ hơn 3mm) có thể gây viêm tuỵ cấp.

Nếu không xử trí nguyên nhân, 38% sẽ viêm tuỵ tái phát.

Thời gian viêm tuỵ tái phát trung bình 108 ngày.

Viêm tuỵ nặng (hoại tử, xuất huyết) chiếm 1/10 các trường hợp. Viêm tuỵ cấp thể nặng có thể dẫn đến các biến chứng sớm và biến chứng muộn.

Biến chứng sớm của viêm tuỵ cấp:

Suy hô hấp cấp

Suy tuần hoàn cấp

Suy thận cấp

Chảy máu đường tiêu hoá

Xuất huyết nội

Viêm phúc mạc

Hội chứng đông máu nội mạch lan toả

Biến chứng muộn của viêm tuỵ cấp:

Tụ dịch quanh tuỵ

Hoại tử tụy vô trùng

Hoại tử tụy nhiễm trùng

Nang giả tụy

Áp-xe tụy

Dò tụy, báng tụy

2-Chẩn đoán:

2.1-Chẩn đoán lâm sàng:

2.1.1-Triệu chứng cơ năng:

Điển hình là cơn đau bụng với các tính chất sau:

Đau đột ngột, thường 1-3 giờ sau bữa nhậu hay bữa ăn nhiều mỡ

Đau giữa bụng (có thể lệch sang trái hay phải khi viêm khu trú ở đầu hay đuôi tuỵ)

Mức độ thay đổi. Tuy nhiên, đa số trường hợp mức độ đau từ nhiều đến trầm trọng.

Đau liên tục

Lan ra sau lưng (50% các trường hợp)

Nằm nghiêng hay sấp sẽ bớt đau

Nôn ói: nôn nhiều lần, không giảm đau sau nôn.

2.1.2-Triệu chứng thực thể:

Sốt (76%), thường sốt nhẹ

Mạch nhanh (68%)

Bụng ấn đau, đề kháng, nhất là vùng ½ trên bụng (68%)

Bụng chướng hơi (65%)

Âm ruột giảm (28%)

Vàng da (28%)

Khó thở (10%)

Huyết áp không ổn định, tụt huyết áp (10%)

Nôn máu, tiêu phân đen (5%)

Mảng đỏ trên da (hoại tử mỡ)

Dấu Cullen (vùng rốn hơi xanh, bằng chứng của xuất huyết trong xoang phúc mạc) và dấu Grey-Turner (mảng bầm máu vùng hông lưng, chứng tỏ có xuất huyết sau phúc mạc) . Các dấu hiệu này chiếm tỉ lệ 3%.

Tràn dịch màng phổi trái: thường lượng ít (30%).

Suy hô hấp cấp tính

2.2-Chẩn đoán phân biệt:

Thủng tạng rỗng

Viêm túi mật cấp

Viêm đường mật

Nhồi máu mạc treo ruột

Tắc ruột

Xoắn ruột

2.3-Chẩn đoán cận lâm sàng:

2.3.1-Amylase:

Là xét nghiệm được thực hiện rộng rãi nhất. Amylase huyết tương bắt đầu tăng 2-12 giờ kể từ lúc khởi đau và giảm trở về bình thường trong vòng 7 ngày. Amylase huyết tương tăng kéo dài hơn 7 ngày chứng tỏ viêm tuỵ cấp đã diễn tiến đến giai đoạn hình thành nang giả tuỵ , áp-xe tuỵ, dò tuỵ.

Amylase cao hơn mức bình thường từ 3 lần trở lên có giá trị cao trong chẩn đoán viêm tuỵ cấp.

Amylase nước tiểu tăng trong khoảng thời gian kéo dài hơn so với amylase huyết tương.

Mức độ tăng amylase không tương quan với mức độ viêm tuỵ.

Amylase trong viêm tuỵ cấp do sỏi tăng cao hơn viêm tuỵ do rượu.

Ngoài viêm tuỵ, amylase còn tăng trong một số bệnh lý bụng cấp khác (bảng 1). Các bệnh lý này thường có amylase tăng cao hơn mức bình thường 2-3 lần.

Bệnh lý tuỵ: viêm tuỵ cấp, viêm tuỵ mãn, chấn thương tuỵ (chấn thương bụng, chấn thương phẫu thuật, ERCP), tuỵ đôi, bất thường bẩm sinh ống tuỵ..

Bệnh lý tuyến mang tai viêm tuyến mang tai do nhiễm trùng, sỏi, chiếu xạ vùng cổ…;chấn thương tuyến mang tai

Suy thận

Bệnh lý gan: viêm gan, suy gan

Bệnh lý ruột non: thủng, nhồi máu mạc treo, tắc ruột, viêm ruột thừa

Viêm phúc mạc

Bệnh lý phụ khoa: thai ngoài tử cung, nang buồng trứng, viêm phần phụ

Bỏng

U ác tính của phổi, buồng trứng, tuỵ, ruột già, vú; pheochromocytoma; u tuyến hung

Chuyển hoá: nhiễm toan, tăng canxi huyết tương, tăng triglyceride huyết tương…

Nhiễm trùng: virus (quai bị, rubella, coxsackie B, cytomegalovirus, HIV), vi khuẩn (klebsiella, E. coli), nấm (candida)

Viêm phổi

Chấn thương sọ não

Phình động mạch chủ bụng

Thuốc: aminosalicylate, furosemide, sulfonamide, 6-mercaptopurine…

Chứng chán ăn, chứng cuồng ăn

Ngộ độc phosphate hữu cơ, nộc độc bò cạp, methyl alcohol…

Bảng 1- Các nguyên nhân gây tăng amylase huyết tương

Trong một số trường hợp viêm tuỵ cấp, amylase huyết tương và nước tiểu ở giới hạn bình thường.

P-amylase tăng đặc hiệu cho viêm tuỵ cấp hơn amylase (p-amylase do tuỵ tiết ra, s-amylase do tuyến nước bọt, ống dẫn trứng, buồng trứng, nội mạc tử cung, tiền liệt tuyến, vú, phổi, gan tiết ra).

2.3.2-Các xét nghiệm khác:

Tỉ lệ thanh thải amylase/creatinine: có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp.

Lipase huyết tương: ít được chỉ định.

Can-xi, cholesterol, triglyceride: chẩn đoán nguyên nhân (tăng can-xi, tăng cholestrerol, triglyceride), chẩn đoán hậu quả (hạ can-xi).

Hematocrite: tăng (cô máu do mất nước vào khoang thứ ba) hay giảm (xuất huyết).

Điện giải, BUN, creatinin, glycemia: phản ánh rối loạn cân bằng điện giải và cân bằng kiềm toan, suy thận, chức năng tuỵ nội tiết.

Xét nghiệm cầm máu, đông máu: rối loạn trong trường hợp nặng.

2.3.3-CT scan:

Chỉ định:

Viêm tuỵ thể nặng (nhằm đánh giá các biến chứng)

Nghi ngờ viêm tuỵ do u tuỵ

Chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác: xoắn ruột, nhồi máu mạc treo ruột…

CT có cản quang (tĩnh mạch và trong dạ dày) là “tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán viêm tuỵ hoại tử.

Kỹ thuật: bơm thuốc cản quang vào dạ dày 15-30 phút trước khi tiến hành. Chụp lần đầu sau đó bơm thuốc cản quang vào lòng mạch và chụp lần hai. Mô tuỵ bình thường có độ cản quang 30-40 HU (đơn vị Hounsfield), khi bơm thuốc cản quang tăng lên 100-150 HU.

Hình ảnh viêm tuỵ cấp (hình 1):

Tuỵ tăng kích thước, lan toả hay khu trú

Tuỵ tăng quang không đều

Xoá nhoà lớp mỡ quanh tuỵ

Có tụ dịch trong và sau phúc mạc

Tuỵ bị hoại tử: một vùng hay toàn thể tuỵ không tăng quang khi bơm thuốc cản quang

Đánh giá tiên lượng viêm tuỵ cấp dựa vào tiêu chuẩn Balthazar (bảng 2):

Đánh giá

Đặc điểm

A

Tuỵ bình thường

B

Tuỵ tăng kích thước, lan toả hay khu trú

C

Có biến đổi bất thường cấu trúc chủ mô tuỵ

D

Một ổ tụ dịch hay ổ viêm tấy tuỵ

E

Nhiều ổ tụ dịch hay ổ viêm tấy tuỵ

Bảng 2- Tiêu chuẩn Balthazar trong đánh giá giai đoạn viêm tuỵ cấp

2.3.4-Siêu âm:

Ít có giá trị trong chẩn đoán viêm tuỵ. Tuy nhiên, trong trường hợp viêm tuỵ do sỏi mật, siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh được chỉ định trước tiên

Có giá trị khi dùng để khảo sát túi mật (nếu nghĩ đến viêm tuỵ do sỏi mật).

Siêu âm qua nội soi: có thể xác định được nút sỏi bùn hay sỏi vi thể, hai nguyên nhân gây viêm tuỵ mà siêu âm thông thường không phát hiện được.

2.3.5-X-quang mật tuỵ ngược dòng qua nội soi (ERCP-endoscopic retrograde cholangiopancreatography):

ERCP giúp đánh giá tình trạng của đường mật và tuỵ ở BN bị viêm tuỵ cấp. Ngoài tác dụng chẩn đoán, ERCP còn có vai trò can thiệp. Tuy nhiên, ERCP không nên được xem là chỉ định đầu tiên đối với viêm tuỵ cấp.

Chỉ định của ERCP:

Viêm tuỵ cấp tái phát nhiều lần (nhằm phát hiện các nguyên nhân chỉ được chẩn đoán bằng ERCP (tuỵ đôi, hẹp Oddi, bất thường ống tuỵ..).

Viêm tuỵ cấp, BN có bằng chứng của sỏi mật và tình trạng lâm sàng đang diễn tiến nặng thêm mặc dầu được điều trị nội khoa tích cực.

2.3.6-X-quang bụng không sửa soạn:

X-quang bụng ít có giá trị trong chẩn đoán viêm tuỵ cấp. Các dấu hiệu sau có thể quan sát thấy:

Mờ vùng bụng trên

Đại tràng cắt cụt

Quai ruột canh gác

Tràn dịch màng phổi trái

Sỏi tuỵ…

X-quang bụng được chỉ định chủ yếu để chẩn đoán phân biệt với thủng tạng rỗng.

2.3.7-Chụp mật tuỵ cộng hưởng từ (MRCP- magnetic resonance cholangiopancreatography):

Là một phương tiện chẩn đoán mới được tiến hành trong thời gian gần đây. MRCP có giá trị chẩn đoán tương tự ERCP, tuy nhiên đây là phương tiện chẩn đoán không xâm lấn.

2.3.8-Sinh thiết tuỵ dưới sự hướng dẫn của CT:

Nhằm mục đích phân biệt hoại tử tuỵ vô trùng và hoại tử tuỵ nhiễm trùng.

2.4-Thái độ chẩn đoán:

Bước 1-Chẩn đoán xác định viêm tuỵ và chẩn đoán loại trừ các bệnh lý khác:

Để chẩn đoán xác định viêm tuỵ cấp, cho đến thời điểm hiện nay, amylase vẫn là xét nghiệm được chỉ định trước tiên.

Ngoài amylase, một số xét nghiệm khác cũng được chỉ định (bảng 3), nhằm mục đích chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác và đánh giá nguyên nhân của viêm tuỵ.

Amyase (máu, nước tiểu)

Công thức máu toàn bộ, glycemia, BUN, creatinine

Bilirubin, AST, ALT, phosphatase kiềm

Cholesterol, triglyceride

Ion đồ

X-quang bụng không sửa soạn

X-quang ngực thẳng đứng

Siêu âm gan mật tuỵ

Bảng 3- Các xét nghiệm cần được thực hiện khi BN nhập viện với chẩn đoán ban đầu là viêm tuỵ cấp

Bước 2-Chẩn đoán nguyên nhân viêm tuỵ cấp:

Khai thác tiền căn, bệnh sử và thăm khám lâm sàng sẽ có hướng chẩn đoán phân biệt giữa viêm tuỵ cấp do rượu và do sỏi mật (bảng 4).



Viêm tuỵ cấp do rượu

Viêm tuỵ cấp do sỏi mật

Tiền căn nghiện rượu

(+)

(-)

Tiền căn có những lần viêm tuỵ cấp trước đó

(+)

(±)

Giới tính

Nam

Nữ

Độ tuổi trung bình

40

65

Bilirubin, AST, ALT, phosphatase kiềm

Bình thường

Tăng

Siêu âm gan mật

Bình thường

Đường mật dãn, có sỏi đường mật

Bảng 4- Chẩn đoán phân biệt giữa viêm tuỵ cấp do rượu và do sỏi mật

Bước 3-Đánh giá mức độ trầm trọng của viêm tuỵ cấp:

Có nhiều phương pháp đánh giá mức độ trầm trọng của viêm tuỵ cấp.

Đánh giá theo tiêu chuẩn Ranson (bảng 5):

Viêm tuỵ cấp không do sỏi mật

Khi nhập viện

Trong vòng 48 giờ đầu

>55 tuổi

BC>16.000

Glycemia>200 mg%

LDH huyết tương>350 UI/L

AST>250 UI/L

Giảm Hct > 10%

Tăng BUN>5mg%

Can-xi huyết tương<8mmhg

PaO2<60mmhg

Thiếu hụt dự trữ kiềm>4 mEq/L

Dịch thoát vào ngăn thứ ba>6L

Viêm tuỵ cấp do sỏi mật

Khi nhập viện

Trong vòng 48 giờ đầu

>70 tuổi

BC>18.000

Glycemia >220 mg%

LDH huyết tương>400 UI/L

AST>250 UI/L

Giảm Hct>10%

Tăng BUN>25mg%

Can-xi huyết tương<8mmhg

PaO2<60mmhg

Thiếu hụt dự trữ kiềm>5 mEq/L

Dịch thoát vào ngăn thứ ba>6L

Bảng 5- Đánh giá mức độ trầm trọng của viêm tuỵ cấp theo tiêu chuẩn Ranson

Đặc điểm của đánh giá theo tiêu chuẩn Ranson:

Bao gồm 11 tiêu chuẩn, được đánh giá khi nhập viện và sau 48 giờ, chớ không phải tại thời điểm nào khác.

Các tiêu chuẩn thay đổi, phụ thuộc vào viêm tuỵ cấp do rượu hay do sỏi mật.

Giá trị chẩn đoán: độ nhạy 73%, độ đặc hiệu 77%.

Phân loại theo APACHE (Acute Physiology And Chronic Health Evaluation):

Có thể đánh giá tại bất kỳ thời điểm nào của căn bệnh

Phức tạp, không được áp dụng phổ biến trên lâm sàng

Giá trị chẩn đoán: độ nhạy 77%, độ đặc hiệu 84%

Chọc rửa xoang phúc mạc: có độ đặc hiệu cao (93%) nhưng độ nhạy thấp (54%).

C-reactive protein (CRP):

Được sản xuất ở gan, do đáp ứng không đặc hiệu với các quá trình viêm cấp.

CRP>6 sau 24 giờ, hay>7 sau 48 giờ kể từ lúc khởi phát viêm tuỵ cấp: viêm tuỵ trầm trọng.

Giá trị chẩn đoán: độ nhạy 73%, độ đặc hiệu 71%

Hiện nay CT là phương tiện được chọn lựa để đánh giá tiên lượng của viêm tuỵ cấp. Ưu điểm của CT:

Chẩn đoán được viêm tuỵ cấp

Chẩn đoán loại trừ các bệnh lý khác

Đánh giá tiên lượng của viêm tuỵ cấp ngay sau khi BN nhập viện

Viêm tuỵ cấp được đánh giá là nặng khi:

>3 tiêu chuẩn Ranson

Chỉ số APACHE>8

Hoại tử tuỵ, áp-xe tuỵ, nang giả tuỵ (tiêu chuẩn Balthazar D, E)

Có dấu hiệu suy tạng (bảng 6)

Sốc (HA tâm thu khi nằm ngữa<90mmhg

PaO2<60mmhg

Creatinine huyết thanh>2 mg/dL

Xuất huyết tiêu hoá>500 mL/24 giờ

Bảng 6- Dấu hiệu suy tạng trong viêm tuỵ cấp

3-Điều trị:

3.1-Nội dung điều trị nội khoa:

Bồi hoàn nước điện giải là biện pháp điều trị quan trọng nhất.

Không ăn uống qua đường miệng trong vài ngày đầu. Cho BN ăn trở lại khi BN bớt đau, bụng xẹp và có cảm giác thèm ăn.

Giảm đau với acetaminophen, tramadol, meperidine.

Truyền máu khi Hct giảm.

Insulin được chỉ định khi glycemia tăng.

Can-xi được chỉ định khi nồng độ can-xi huyết tương giảm.

Kháng sinh được chỉ định trong viêm tuỵ nặng, nhằm hạ thấp tỉ lệ nhiễm trùng. Thuốc có độ thâm nhập vào mô tuỵ tốt thường được chọn (imipenem và ciplastatin, metronidazole và levofloxacin…).

Đảm bảo cân bằng nitơ dương tính bằng dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch (bổ sung hay toàn bộ).

Không cần thiết phải đặt thông dạ dày, nếu BN không nôn ói hay bụng không chướng nhiều.

Các loại thuốc làm giảm chức năng tuỵ ngoại tiết (hút thông dạ dày, kháng acid, kháng thụ thể H2, anticholinergic, glucagons, calcitonin, somatostatin…) không làm thay đổi tỉ lệ biến chứng, thời gian nằm viện cũng như tỉ lệ tử vong.

3.2-Chỉ định ERCP lấy sỏi và cắt cơ vòng (ERCP can thiệp):

Viêm tuỵ cấp do sỏi: ERCP trong vòng 48 giờ.

Viêm tuỵ cấp do sỏi có viêm đường mật hay vàng da kết hợp: ERCP cấp cứu.

Viêm tuỵ cấp thể nặng do sỏi: ERCP khi BN ổn định.

BN đã ổn định sau đợt viêm tuỵ do sỏi nhưng không muốn hay có chống chỉ định phẫu thuật cắt túi mật nội soi

3.3-Phẫu thuật cắt túi mật nội soi:

Chỉ định: viêm tuỵ cấp do sỏi túi mật.

Thời điểm có thể tiến hành phẫu thuật: vài tuần sau đợt viêm tuỵ cấp.

3.4-Chọc hút dưới sự hướng dẫn của siêu âm hay CT:

Khi có dịch tụ quanh tuỵ nhiễm trùng hay áp-xe tuỵ, có thể tiến hành chọc hút dưới sự hướng dẫn của siêu âm hay CT.

3.5-Mở bụng thám sát và xử trí tổn thương:

Chỉ định:

Chẩn đoán không rõ ràng (không loại trừ được thủng tạng rỗng, xoắn ruột, nhồi máu mạc treo ruột…)

Xuất huyết nội

Tụ dịch quanh tuỵ nhiễm trùng hay áp-xe tuỵ đã chọc hút nhưng thất bại

Hoại tử tuỵ nhiễm trùng

Nang giả tuỵ

Dò tuỵ



Theo http://ngoaikhoathuchanh.info

Links download

http://www.mediafire.com/?jngfognzuim

http://www.slideshare.net/giangduongykhoa/viem-tuy-cap-ok


Ung thư đường mật ngoài gan







Ung thư đường mật là bệnh lý ác tính hiếm gặp, chiếm khoảng 2% tổng số các trường hợp ung thư. Tuy nhiên, ung thư đường mật là bệnh lý ác tính phổ biến thứ nhì của gan mật, chỉ đứng sau ung thư tế bào gan.

90% ung thư đường mật nguyên phát là ung thư đường mật ngoài gan, trong đó 60-80% là ung thư ngã ba ống gan (khối u Klatskin), 25% là ung thư đoạn cuối ống mật chủ (bao gồm ung thư bóng Vater).

Nam giới và nữ giới có nguy cơ bị ung thư đường mật ngang nhau. Độ tuổi càng cao, nguy cơ bị ung thư đường mật càng lớn.

90% ung thư đường mật là ung thư ống tuyến (ductal adenocarcinoma).

Phân loại ung thư ngã ba ống gan theo Bismuth (hình 1):

Týp I: khối u giới hạn ở ống gan chung

Týp II: khối u xân lấn vào ngã ba ống gan

Týp IIIa và IIIb: khối u xân lấn vào ống gan phải hay ống gan trái đoạn trong gan

Týp IV: khối u xân lấn vào ống gan phải và ống gan trái đoạn trong gan

Các trường hợp bệnh lý gây viêm hay kích thích đường mật kéo dài được xem là nguyên nhân của ung thư đường mật. BN bị viêm đường mật xơ hoá nguyên phát, một bệnh lý viêm không rõ nguyên nhân của đường mật, có nguy cơ bị ung thư đường mật 40%. 25% BN bị nang đường mật bẩm sinh sẽ bị ung thư đường mật sau này. Nhiễm ký sinh trùng mãn tính ở đường mật (Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini) cũng là yếu tố nguy cơ của ung thư đường mật (bảng 1).

Viêm đường mật xơ hoá nguyên phát

Nang đường mật bẩm sinh

Nhiễm ký sinh trùng đường mật

Sỏi túi mật, sỏi gan

Hoá chất:

Thuốc cản quang

Chất phóng xạ

Chất sinh ung thư (arsenic, dioxin, nitrosamines, polychlorinated biphenyls)

Thuốc (thuốc ngừa thai, methyldopa, isoniazid)

Người mang mầm bệnh thương hàn mãn tính

Bảng 1- Các yếu tố nguy cơ của ung thư đường mật

Ung thư đường mật có đặc tính diễn tiến chậm, xâm lấn tại chỗ là chủ yếu. Ung thư đường mật cho di căn xa trong giai đoạn trễ của căn bệnh.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của ung thư đường mật là tắc mật. Tình trạng tắc mật kéo dài cuối cùng dẫn đến suy gan, suy dinh dưỡng, suy thận, rối loạn đông máu, viêm đường mật và tử vong

Ung thư đường mật ở đoạn cuối ống mật chủ, được xếp vào nhóm ung thư vùng quanh bóng Vater. Ung thư vùng quanh bóng Vater là bệnh lý ác tính của các cấu trúc cách bóng Vater trong phạm vi 1 cm. Có bốn bệnh lý ác tính ở vùng quanh bóng Vater, tương ứng với 4 loại tế bào biểu mô khác nhau: niêm mạc tá tràng, đường mật, ống tuỵ và bóng Vater chính danh. Trong 4 loại ung thư của vùng quanh bóng Vater, ung thư bóng Vater chính danh có tiên lượng tốt nhất. Chẩn đoán phân biệt ung thư bóng Vater chính danh và các ung thư vùng quanh bóng Vater còn lại dựa vào xét nghiệm sinh học: thành phần chất nhầy trong u bóng Vater là sialomucins, trong khi tế bào của các u vùng quanh bóng Vater khác tiết mucins sulfat hoá.

Các ung thư vùng quanh bóng Vater có chung một thái độ chẩn đoán và điều trị.

Ung thư đường mật ngoài gan nằm ở một nhánh đường mật chính (ống gan phải hay ống gan trái), tuy chiếm một tỉ lệ nhỏ trong ung thư đường mật ngoài gan, nhưng biểu hiện lâm sàng lại tương đối khác biệt với ung thư đường mật ngoài gan ở các đoạn khác: vàng da diễn tiến chậm hơn, phần gan tương ứng với ống mật bị tắc đã bị xơ hoá và mất chức năng khi BN nhập viện.

Ung thư đường mật ngoài gan đoạn 1/3 giữa ống mật chủ thực tế hiếm gặp. Nếu có, ung thư 1/3 giữa ống mật chủ thường là ung thư thứ phát, do sự xâm lấn trực tiếp từ ung thư túi mật, hơn là ung thư nguyên phát tại đường mật.

2-Chẩn đoán:

2.1-Chẩn đoán lâm sàng:

Vàng da do tắc mật xảy ra trong 100% các trường hợp (nếu tính luôn ung thư đường mật trong gan, tỉ lệ này là hơn 90%). Đặc điểm của vàng da trong ung thư đường mật là: vàng da tắc mật hoàn toàn (da vàng sậm, ngứa, phân trắng như “cứt cò”), không đau, không kèm sốt.

Các triệu chứng khác bao gồm: đau âm ỉ vùng hạ sườn phải, chán ăn, sụt cân…

Khi thăm khám lâm sàng, ngoài vàng da, gan to là dấu hiệu thường gặp nhất. Gan thường to mềm với bờ tù. Gan to, mật độ chắc, bờ sắc là biểu hiện của xơ gan do tắc mật, gặp trong ung thư khu trú ở một ống gan.

BN bị ung thư đoạn cuối ống mật chủ sẽ có túi mật căng to (dấu hiệu Courvoisier).

BN bị ung thư đoạn vùng quanh bóng Vater có thể có các biểu hiện sau:

Thiếu máu (do chảy máu rỉ rã vào lòng tá tràng)

Viêm tuỵ, tiêu phân mỡ (do tắc nghẽn ống tuỵ)

Sốt là triệu chứng hiếm khi xảy ra trong ung thư đường mật ngoài gan. Sốt, nếu có, thường xuất hiện sau các can thiệp đường mật chẩn đoán (PTC, ERCP).

2.2-Chẩn đoán cận lâm sàng:

Xét nghiệm chứng tỏ có sự tắc mật ngoài gan:

Bilirubin (chủ yếu trực tiếp) tăng rất cao

AST, ALT tăng

Phosphatase kiềm tăng

Cần chú ý là nếu BN bị ung thư ở một ống gan nhập viện ở giai đoạn chưa xuất hiện vàng da, kết quả xét nghiệm sẽ cho thấy AST, ALT, phosphatse kiềm tăng nhưng nồng độ bilirubin huyết tương lại bình thường.

CA 19-9 tăng > 100 IU/mL (bình thường <>

Sự tăng nồng độ CEA và CA 19-9 ở BN bị viêm đường mật xơ hoá nguyên phát có độ đặc hiệu 100% trong chẩn đoán ung thư đường mật, vì thế chúng thường được sử dụng như là phương tiện tầm soát ung thư đường mật ở BN bị viêm đường mật xơ hoá nguyên phát.

Siêu âm và CT khó quan sát trực tiếp khối u, cũng như xác định vị trí tắc nghẽn. Hình ảnh dãn đường mật trong gan, nhưng đường mật ngoài gan và túi mật xẹp gợi ý tổn thương ở ngã ba ống gan. Ngược lại, trong ung thư ống mật chủ, đường mật trong gan dãn và túi mật căng to.

Siêu âm qua nội soi, với hình ảnh có độ phân giải cao, có thể quan sát các tổn thương đoạn cuối ống mật chủ cũng như đánh giá di căn hạch.

Chụp đường mật xuyên gan qua da (PTC) và qua nội soi mật tuỵ ngược dòng (ERCP) là phương tiện chẩn đoán X-quang quan trọng nhất. PTC và ERCP cho thấy rõ hình ảnh giải phẫu của đường mật cũng như vị trí tắc nghẽn. Riêng đối với ung thư vùng quanh bóng Vater, ERCP là phương tiện chẩn đoán được lựa chọn vì có thể quan sát trực tiếp cũng như sinh thiết khối u.

MRCP có giá trị chẩn đoán tương đương PTC và ERCP nhưng có ưu điểm hơn PTC và ERCP ở đặc điểm không xâm lấn (hình 2).

X-quang mạch máu và MRI ít khi được chỉ định để đánh giá khả năng xâm lấn của khối u vào mạch máu lân cận.

2.3-Chẩn đoán phân biệt:

Trên lâm sàng, các bệnh lý sau đây cần được chẩn đoán phân biệt với ung thư đường mật ngoài gan:

Ung thư đầu tuỵ

Ung thư tá tràng

Ung thư túi mật

Nang đường mật

Viêm đường mật xơ hoá nguyên phát

Hẹp đường mật do các nguyên nhân lành tính khác

U lành tính bóng Vater

Hoại tử bóng Vater

Viêm tuỵ mãn

2.4-Thái độ chẩn đoán:

Vàng da tắc mật hoàn toàn, không đau bụng và không sốt xảy ra ở BN lớn tuổi là tam chứng gợi ý có sự bế tắc đường mật ngoài gan do nguyên nhân ác tính.

Nếu sờ thấy túi mật căng to khi thăm khám bụng, vị trí bế tắc nằm ở bên dưới ngả ba ống túi mật và đường mật.

Do khối u có kích thước nhỏ, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh có giá trị hạn chế trong việc đánh giá tính chất của khối u. Vai trò chủ yếu của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh là cho thấy hình ảnh của đường mật đoạn trên vị trí tắc (dãn to) và dưới vị trí tắc (xẹp hay kích thước bình thường). PTC, ERCP và MRCP cho thấy hình ảnh đường mật rõ nhất.

ERCP còn có tác dụng sinh thiết nếu khối u ở vùng quanh bóng Vater.

Với kết quả của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, nếu kết hợp với CA 19-9 tăng cao, chẩn đoán ung thư đường mật ngoài gan là hầu như chắc chắn.

Nếu CA 19-9 bình thường, BN vẫn có chỉ định phẫu thuật (giải áp đường mật), việc chẩn đoán xác định ung thư đường mật sẽ được thực hiện trong lúc mổ.

2.5-Đánh giá giai đoạn (theo AJCC) (bảng 2):

Khối u:

o T1: khối u còn giới hạn trong đường mật

o T2: khối u xâm lấn ra ngoài đường mật

o T3: khối u xâm lấn vào gan, túi mật, tuỵ, nhánh gan phải hay trái của tĩnh mạch cửa hay động mạch gan

o T4: khối u xâm lấn vào dạ dày, đại tràng, tá tràng, thành bụng, thân chính của tĩnh mạch cửa hay động mạch gan chung

Di căn hạch:

o N0: không di căn hạch

o N1: có di căn hạch

Di căn xa:

o M0: không di căn xa

o M1: có di căn xa

Đánh giá giai đoạn ung thư đường mật (theo AJCC) (bảng 2):

Giai đoạn

T

N

M

IA

1

0

0

IB

2

0

0

IIA

3

0

0

IIB

1

1

0

2

1

0

3

1

0

III

4

Bất kỳ

0

IV

Bất kỳ

Bất kỳ

1

Bảng 2- Đánh giá giai đoạn ung thư đường mật (theo AJCC)

3-Điều trị:

3.1-Các phương pháp điều trị và chỉ định:

Phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất ung thư đường mật ngài gan. Hoá trị không cải thiện được tiên lượng sống.

Phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí và giai đoạn tiến triển của khối u:

Ung thư ngã ba ống gan:

Bismuth týp I và II: cắt khối u và nối hỗng tràng với hai ống gan.

Bismuth týp III: cắt khối u kèm theo cắt gan phải hay gan trái.

Bismuth týp IV: phẫu thuật giải áp đường mật:

Phẫu thuật Longmire: cắt bỏ ½ ngoài thuỳ gan trái, bộc lộ ống gan phân thuỳ II và III, nối hỗng tràng vào mặt cắt gan còn lại (hình 3).

Xẻ ống gan phân thuỳ III hay V, nối ống gan (phân thuỳ III hay V) với hỗng tràng (hình 4).

Ung thư đoạn cuối ống mật chủ: cắt đoạn cuối ống mật chủ-đầu tuỵ-tá tràng (phẫu thuật Whipple). Trường hợp khối u không cắt được: nối túi mật-hỗng tràng.

BN không có chỉ định phẫu thuật: giải áp đường mật bằng cách đặt stent xuyên qua bướu. Việc đặt được thực hiện qua da (PTC) hay qua ERCP.

Công việc chuẩn bị trước phẫu thuật có một số vấn đề cần chú ý:

Vấn đề giải áp đường mật: thường không được đặt ra trước mổ, trừ các trường hợp sau:

BN bị viêm đường mật

BN bị suy thận

BN mắc các bệnh lý nội khoa, toàn trạng yếu, suy dinh dưỡng, suy giảm chức năng miễn dịch, không thể được phẫu thuật ngay

BN được dự trù cắt bỏ một phần lớn gan kèm theo cắt khối u đường mật (Bismuth typ III). Phần gan còn chừa lại sẽ tái tạo nhanh hơn nếu không bị ứ mật.

Vấn đề nhiễm trùng đường mật: BN bị viêm đường mật, tự phát hay sau các thủ thuật chẩn đoán có tính chất xâm lấn (PTC, ERCP), nên được giải áp đường mật và sử dụng kháng sinh thích hợp cho đến khi tình trạng nhiễm trùng được dập tắt. Thời gian điều trị trung bình 3 tuần.

Vấn đề suy thận: tình trạng tắc mật có nguy cơ dẫn đến suy thận nếu như có một trong các yếu tố thuận lợi phối hợp: thiếu nước, hạ huyết áp, nhiễm trùng, thuốc cản quang, kháng sinh…Cần chú ý bồi hoàn đầy đủ nước ở BN tắc mật. Truyền dịch cho BN trước các thủ thuật có tiêm thuốc cản quang vào trong lòng mạch. Hạn chế sử dụng kháng sinh có độc tính trên thận (aminoglycoside). Chỉ định thích hợp các loại thuốc hạ áp ở BN bị cao huyết áp để tránh biến chứng tụt huyết áp. Đối với BN bị suy thận, cần hoãn cuộc mổ và điều trị cho đến khi chức năng thận trở về bình thường.

Vấn đề suy dinh dưỡng và suy giảm chức năng miễn dịch: BN bị suy dinh dưỡng và suy giảm chức năng miễn dịch cần được điều trị cho đến khi tình trạng dinh dưỡng và chức năng miễn dịch trở lại bình thường. Tuỳ theo tình trạng dinh dưỡng hiện tại, thời gian điều trị có thể lên đến 4-6 tuần.

Vấn đề rối loạn chức năng đông máu: BN có rối loạn chức năng đông máu do tắc mật cần được điều trị bằng huyết tương tươi và vitamin K. Ngay cả khi xét nghiệm đông máu chưa cho thấy có sự bất thường, BN cũng cần được cho vitamin K tối thiểu 24 giờ trước mổ để phục hồi lại kho dự trữ vitamin K của cơ thể.

Kháng sinh dự phòng: luôn cần thiết. Đối với BN đã được đặt stent đường mật trước đó, nên chỉ định kháng sinh phổ rộng và thời gian sử dụng kháng sinh dự phòng có thể kéo dài hơn bình thường (2-3 ngày sau mổ).

3.2-Kết quả và tiên lượng:

Tỉ lệ sống 5 năm:

Ung thư ngã ba ống gan được phẫu thuật điều trị và bờ cắt âm tính: 10-20%.

Ung thư đoạn cuối ống mật chủ được phẫu thuật điều trị và bờ cắt âm tính: 28-45% (thời gian sống trung bình 32-38 tháng).



Theo http://ngoaikhoathuchanh.info

Links download

http://www.mediafire.com/?v4hfuudmfmy

http://www.slideshare.net/giangduongykhoa/k-duong-mat-ok


Girls Generation - Korean