Thursday, March 12, 2009

Viêm khớp phản ứng

Viêm khớp phản ứng là một bệnh viêm xảy ra trong đáp ứng với nhiễm trùng ở một nơi khác của cơ thể. Tiếp xúc với vi khuẩn và bị nhiễm trùng có thể gây nên viêm khớp phản ứng.

Dấu hiệu và triệu chứng

  • Viêm khớp, thường ở cổ chân, khớp gối, bàn chân và khớp háng.
  • Viêm đường tiết niệu sinh dục, gây đái rắt, đái buốt hoặc mủ ở đầu dương vật.
  • Viêm kết mạc
  • Viêm màng bồ đào
  • Loét miệng
  • Phát ban trên da
  • Viêm gân và viêm bao gân
  • Viêm điểm nối giữa gân và xương có thể tạo thành những gai xương
  • Đau thắt lưng và mông
  • Viêm cột sống
  • Viêm khớp cùng chậu
  • Sốt
  • Sụt cân
  • Viêm tuyến tiền liệt
  • Viêm cổ tử cung

Triệu chứng có thể bắt đầu một vài ngày hoặc vài tuần sau khi tiếp xúc với tác nhân gây nhiễm trùng. Bệnh có thể nhẹ và phải rất lâu sau mới phát hiện được.

Nguyên nhân

Nhiều loại vi khuẩn có thể gây viêm khớp phản ứng. Các dạng viêm khớp phản ứng khác nhau được đặt tên dựa trên nguồn gốc nhiễm trùng:

  • Niệu dục. Nếu nhiễm trùng khởi phát bắt nguồn từ dương vật, âm đạo, bàng quang hoặc niệu đạo, bệnh được gọi là viêm khớp phản ứng niệu dục hoặc viêm khớp tiết niệu. Chlamydia là vi khuẩn hay gặp nhất có liên quan với dạng viêm khớp phản ứng này.
  • Tiêu hóa. Nếu nhiễm trùng xâm nhập qua đường tiêu hóa, như ăn phải thịt sống có chứa vi khuẩn, bệnh được dọi là viêm khớp phản ứng tiêu hóa. Các vi khuẩn lây truyền qua đường thực phẩm gồm salmonella, shigella, yersinia và campylobacter.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Nuôi cấy tìm vi khuẩn gây nhiễm trùng.

  • Tốc độ máu lắng
  • Xét nghiệm tìm yếu tố thấp và kháng thể kháng nhân.
  • Chụp X quang khớp.
  • Xét nghiệm di truyền tìm kháng nguyên HLA-B27.

Điều trị

  • Thuốc chống viêm phi steroid.
  • Corticosteroid.
  • Kháng sinh.
  • Chất chẹn yếu tố hoại tử khối u như etanercept và infliximab
  • Vật lý trị liệu

Phòng bệnh

- Bảo quản và nấu chín thực phẩm ở nhiệt độ thích hợp để ngăn ngừa vi khuẩn gây bệnh lây qua đường thực phẩm, như salmonella, shigella, yersinia và campylobacter.

- Thực hành an toàn tình dục vì phòng ngừa bệnh lây qua đường tình dục sẽ làm giảm nguy cơ viêm khớp phản ứng.

theo http://www.cimsi.org.vn

Bệnh nhược cơ

Định nghĩa:

Nhược cơ là một bệnh mạn tính đặc trưng bởi tình trạng yếu và nhanh mệt của các cơ vận động tự ý. Bệnh hay gặp hơn ở phụ nữ dưới 40 và trên 70 tuổi, và ở nam giới trên 50 tuổi.

Dấu hiệu và triệu chứng

Nhược cơ có thể xảy ra ở bất kỳ cơ vận động tự ý nào của cơ thể, hay gặp nhất là các cơ ở mặt, mắt, cánh tay và chân, và các cơ tham gia thực hiện các động tác nhai, nuốt và nói. Các dấu hiệu và triệu chứng gồm:

· Yếu cơ ở mặt, có thể gây sụp mi

· Nhìn đôi

· Khó thở, khó nói, khó nhai hoặc nuốt.

· Yếu cơ ở tay hoặc chân

· Nhanh mỏi khi phải lặp lại các động tác.

Nguyên nhân

Trong bệnh nhược cơ, hệ miễn dịch của cơ thể sản sinh ra những kháng thể ức chế hoặc phá huỷ các thụ thể acetylcholin ở cơ, dẫn đến gián đoạn quá trình trao đổi thông tin giữa thần kinh và cơ và làm cơ yếu đi.

Một số yếu tố có thể làm bệnh nặng lên, như mệt mỏi, bị bệnh, bị stress, quá nóng và dùng một số thuốc, như thuốc chẹn bêta, thuốc chẹn kênh calci, quinin và một vài loại kháng sinh.

Khám xét và chẩn đoán

Dấu hiệu chính để nghĩ tới bệnh nhược cơ là tình trạng yếu cơ được cải thiện khi nghỉ ngơi. Các xét nghiệm xác nhận chẩn đoán có thể gồm:

  • Khám thần kinh kiểm tra phản xạ, cơ lực, trương lực cơ, cảm giác xúc giác, thị lực, dáng đi, tư thế, phối hợp động tác, thăng bằng và các chức năng tâm thần.
  • Xét nghiệm máu tìm những kháng thể bất thường phá huỷ các vị trí thụ thể ở cơ tiếp nhận xung động thần kinh.
  • Test edrophonium. Edrophonium(Tensilon) có tác dụng ức chế enzym giáng hóa acetylcholin. Tiêm chất này cho bệnh nhân bị bệnh nhược cơ có thể làm cho cơ lực được cải thiện rõ rệt trong thời gian ngắn. .
  • Xét nghiệm độ dẫn truyền thần kinh và điện cơ đồ nhằm kiểm tra lực co cơ và ghi lại mô hình hoạt động điện của cơ khi nghỉ ngơi và khi co cơ nhẹ.

Điều trị

Hiện chưa có biện pháp nào chữa khỏi bệnh nhược cơ, nhưng những cách điều tị sau có thể làm giảm triệu chứng bệnh

Điều trị nội khoa: Các thuốc ức chế men cholinesterase, như pyridostigmin (Mestinon) và neostigmine (Prostigmin) làm tăng quá trình truyền thông tin giữa thần kinh và cơ và có tác dụng điều trị nguyên nhân, song không cải thiện được khả năng co cơ và cơ lực. Ngoài ra còn có thể sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch như corticosteroid hoặc các thuốc điều biến miễn dịch như azathioprin (Imuran), mycophenolat mofetil (CellCept), cyclophosphamid (Cytoxan) hoặc cyclosporin (Sandimmune, Neoral).

Điều trị ngoại khoa. Ý kiến chung cho rằng cắt bỏ tuyến ức sẽ làm giảm bệnh ở đa số bệnh nhân. Phẫu thuật thường được khuyến nghị cho bệnh nhân dưới 60 tuổi. Tuy nhiên hiệu quả của cách điều trị này còn đang bị tranh cãi.

Lọc huyết tương nhằm loại bỏ các kháng thể. Đây có thể là biện pháp điều trị cấp cứu trong giai đoạn bệnh nặng đe dọa tính mạng.

Tiêm tĩnh mạch globulin miễn dịch để đưa vào cơ thể các kháng thể bình thường giúp biến đổi đáp ứng miễn dịch. Liệu pháp này có ít nguy cơ bị tác dụng phụ hơn so với lọc huyết tương và thuốc ức chế miễn dịch, song phải mất từ một đến hai tuần mới có tác dụng và hiệu quả thường chỉ kéo dài vài tuần đến vài tháng.

theo http://www.cimsi.org.vn

Viêm da cơ

Viêm da cơ là một bệnh viêm hiếm gặp đặc trưng bởi yếu cơ và phát ban trên da. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng hay gặp nhất là ở độ tuổi từ 40 – 60 và trẻ em từ 5 – 15 tuổi. Phụ nữ hay bị bệnh hơn nam giới.

Dấu hiệu và triệu chứng

  • Phát ban màu đỏ sẫm hoặc màu tím, hay gặp nhất ở mặt, mi mắt và vùng quanh móng tay, đốt ngón tay, khuỷu tay, đầu gối, ngực và lưng. Vùng bị bệnh đặc biệt nhạy cảm với ánh nắng mặt trời.
  • Yếu cơ tăng dần, nhất là ở những cơ gần thân mình như ở háng, đùi, vai, cánh tay và cổ. Yếu cơ đối xứng 2 bên.

Những triệu chứng khác có thể xảy ra là:

  • Khó nuốt
  • Đau cơ
  • Mệt mỏi, sốt và sút cân
  • Những ổ lắng đọng calci cứng dưới da, nhất là ở trẻ em.
  • Loét và nhiễm trùng tiêu hóa, cũng hay gặp hơn ở trẻ em.
  • Bệnh phổi.

Nguyên nhân

Viêm da cơ được cho là một rối loạn tự miễn trong đó hệ miễn dịch tấn công bào mô bình thường của cơ thể. Nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc virus có thể gây viêm da cơ, nhưng trong phần lớn các trường hợp không xác định được nguyên nhân gây bệnh. Người ta cho rằng có lẽ một số người có cơ địa di truyền nhạy cảm với căn bệnh này.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Bệnh dễ được phát hiện dựa vào đặc điểm phát ban. Ngoài khám thực thể và tìm hiểu tiền sử bệnh trong gia đình. Một số xét nghiệm sau cũng được sử dụng để giúp đưa ra chẩn đoán:

  • Ghi điện cơ

Xét nghiệm máu phát hiện tăng nồng độ các enzym của cơ và tự kháng thể trong máu.

  • Sinh thiết cơ
  • Sinh thiết da
  • Chụp cộng hưởng từ phát hiện viêm ở cơ.

Điều trị

· Corticosteroid. Có tác dụng ức chế hệ miễn dịch, làm giảm viêm da và cơ.

· Thuốc ức chế miễn dịch, như azathioprine hoặc methotrexate. Các thuốc này có thể dùng đơn thuần hoặc phối hợp với corticsteroid.

  • Thuốc chống sốt rét. Với phát ban dai dẳng, bác sĩ có thể kê đơn các thuốc chống sốt rét, như hydroxychloroquine hoặc chloroquine phosphate.
  • Vật lý trị liệu. Các bài tập vật lý trị liệu giúp cải thiện sức mạnh và sự linh hoạt.
  • Phẫu thuật lấy bỏ những lắng đọng calci gây đau.
  • Thuốc giảm đau. Các thuốc không kê đơn như aspirin, ibuprofen và acetaminophen có thể giúp giảm đau. Nếu những thuốc này không đủ hiệu quả, có thể kê đơn những thuốc mạnh hơn như codeine.

Các biện pháp đang được nghiên cứu gồm:

  • Lọc máu để loại trừ kháng thể
  • Chiếu xạ hạch lympho
  • Tiêm tĩnh mạch globulin miễn dịch.
  • Thuốc fludarabine (Fludara) ngăn ngừa các tế bào ác tính.
  • Tacrolimus (Prograf). Thường dùng bôi tại chỗ để điều trị viêm da cơ và nhiều bệnh da khác.
  • Kháng thể đơn dòng.
theo http://www.cimsi.org.vn

Viêm đa cơ

Viêm đa cơ là một bệnh hiếm gặp gây viêm ở nhiều cơ. Đây là một dạng bệnh mô liên kết. Đặc điểm đáng chú ý nhất của bệnh là yếu cơ, nhất là những cơ gần thân người nhất, như cơ vùng bả vai và khớp háng.

Dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh thường diễn biến từ từ, vì vậy rất khó biết nó bắt đầu từ khi nào. Những triệu chứng hay gặp nhất là:

  • Yếu cơ tăng dần, nhất là những cơ gần với thân mình, như các cơ ở vùng háng, đùi, bả vai, cánh tay và cổ, đối xứng hai bên.
  • Khó nuốt
  • Sưng nề cơ hoặc khớp nhẹ
  • Mệt mỏi

Nguyên nhân

Chưa rõ nguyên nhân chính xác gây bệnh. Nhiễm trùng do vi khuẩn, ký sinh trùng hoặc virus có thể gây viêm đa cơ, nhưng trong phần lớn các trường hợp không thể xác định được nguyên nhân gây bệnh.

Có giả thuyết cho rằng viêm đa cơ là một bệnh tự miễn, vì một lý do nào đó hệ miễn dịch của cơ thể sản sinh ra kháng thể tấn công và làm tổn thương mô cơ khỏe mạnh. Nhiều người bị viêm đa cơ có nồng độ tự kháng thể cao trong máu. Tuy nhiên chưa rõ liệu những tự kháng thể này có thực sự gây viêm đa cơ hay không.

Xét nghiệm và chẩn đoán

  • Tiền sử gia đình. Tiền sử bệnh cơ trong gia đình và tuổi khởi phát bệnh sẽ giúp phân biệt giữa viêm đa cơ và teo cơ. Teo cơ là một bệnh di truyền thường biểu hiện sớm khi còn nhỏ.
  • Đo cơ điện đồ
  • Xét nghiệm máu:

- Tăng nồng độ các enzym của cơ như creatine kinase (CK) và aldolase báo hiệu tổn thương cơ.

- Phát hiện các tự kháng thể trong máu

  • Sinh thiết cơ có thể thấy những bất thường ở cơ như viêm, tổn thương hoặc nhiễm trùng.
  • Chụp cộng hưởng từ có thể giúp phát hiện viêm ở cơ.

Điều trị

  • Corticosteroid.
  • Các thuốc ức chế miễn dịch khác như azathioprine hoặc methotrexate.
  • Vật lý trị liệu. Các bài tập vật lý trị liệu có thể giúp duy trì và cải thiện sức mạnh và sự linh hoạt của cơ.

Những biện pháp vẫn đang được nghiên cứu gồm:

  • Lọc huyết tương nhằm loại kháng thể ra khỏi máu
  • Chiếu xạ hạch lympho ức chế hệ miễn dịch
  • Tiêm tĩnh mạch globulin miễn dịch
  • Fludarabine (Fludara). Có tác dụng ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của các tế bào ác tính.
  • Tacrolimus (Prograf). Thuốc có tác dụng ức chế hệ miễn dịch. Tacrolimus thường được dùng ở dạng bôi để điều trị viêm da cơ và một số bệnh da khác.
  • Kháng thể đơn dòng như infliximab và rituximab có tác dụng phá huỷ một số loại tế bào miễn dịch đặc hiệu.
theo http://www.cimsi.org.vn

Bệnh gút

Bệnh gút, hay viêm khớp gút, là một dạng viêm khớp đặc trưng bởi những cơn đau dữ dội đột ngột, đỏ và sưng ở khớp. Đây là một rối loạn phức tạp có thể xảy ra ở bất cứ ai, song nam giới dễ bị bệnh hơn phụ nữ. Phụ nữ sẽ bị tăng khả năng mắc bệnh sau khi mãn kinh.

Dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng của gút hầu như luôn là cấp tính, xảy ra đột ngột - thường vào ban đêm – và không có dấu hiệu báo trước.

· Đau khớp dữ dội. Gút thường ảnh hưởng đến khớp lớn của ngón chân cái nhưng có thể xảy ra ở bàn chân, cổ chân, đầu gối, bàn tay và cổ tay. Đau thường kéo dài 5 đến 10 ngày mà sau đó hết. Khó chịu giảm dần sau một hai tuần, để lại khớp có vẻ rất bình thường và không đau.

· Khớp bị sưng, nóng và đỏ.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây bệnh gút là do viêm ở khớp do sự tích luỹ các tinh thể urat. Acid uric là một chất được hình thành từ quá trình giáng hóa purin. Chất này có mặt tự nhiên trong cơ thể cũng như trong một số loại thực phẩm, nhất là phủ tạng động vật. Bình thường acid uric hòa tan trong máu và được thận bài xuất ra ngoài qua nước tiểu. Nếu vì lý do nào đó cơ thể sản sinh qua nhiều hoặc bài xuất quá ít chất này thì acid uric có thể tích luỹ, tạo thành những tinhh thể hình kim sắc nhọn (urat) trong khớp và các mô xung quanh khớp, gây đau, viêm và sưng.

Xét nghiệm và chẩn đoán

· Lấy dịch từ khớp bị bệnh để tìm tinh thể acid uric trong bạch cầu

· Xét nghiệm nước tiểu để đo lượng acid uric được bài xuất

· Xét nghiệm máu đo nồng độ acid uric trong máu

Điều trị

- Đối với cơn gút cấp, các thuốc chống viêm phi steroid (NSAID), như ibuprofen và naproxen có thể làm giảm đau.

- Với những trường hợp nặng, có thể dùng corticosteroid như prednisone. Cũng có thể tiêm cortisone vào khớp bị bệnh để giảm đau. Nhưng phương pháp này có những tác dụng phụ và nói chung không nên tiêm quá 3 lần/năm.

- Khi cơn gút cấp đã được kiểm soát, có thể áp dụng những biện pháp phòng ngừa để làm chậm tốc độ sản sinh acid uric của cơ thể hoặc tăng tốc độ bài xuất.

Phòng bệnh

Không có cách nào chắc chắn ngăn ngừa được cơn gút cấp ban đầu hoặc về sau, nhưng bác sĩ có thể kê đơn một số thuốc để làm giảm nguy cơ hoặc mức độ nặng của các đột bệnh xảy ra sau này. Những thuốc này gồm allopurinol và probenecid. Khi được dùng hằng ngày, thuốc làm chậm tốc độ hình thành acid uric và đẩy nhanh việc thải trừ chất này ra khỏi cơ thể. Nói chung, giữ nồng độ acid uric trong giới hạn bình thường là chìa khóa để phòng ngừa bệnh gút.

theo http://www.cimsi.org.vn


Thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp là dạng viêm khớp hay gặp nhất. Thoái hóa khớp đặc trưng bởi tình trạng thoái hóa sụn khớp và có thể xảy ra ở bất kỳ khớp nào trong cơ thể.

Dấu hiệu và triệu chứng

Thoái hóa khớp thường tiến triển chậm và một số người có thể không có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng nào. Tuy nhiên, bệnh có thể gây ra những dấu hiệu và triệu chứng sau:

  • Đau khớp trong hoặc sau khi vận động, hoặc sau một thời gian không vận động.
  • Khó chịu ở khớp trước hoặc trong khi thay đổi thời tiết
  • Sưng và cứng một khớp, nhất là sau khi vận động
  • Gai xương ở giữa hoặc đầu các khớp ngón tay hoặc khớp bàn ngón tay cái
  • Khớp giảm linh hoạt

Nguyên nhân

Nguyên nhân là do sự thoái hóa của lớp sụn đệm ở đầu xương trong khớp, khiến cho bề mặt sụn trở nên thô ráp. Cuối cùng, nếu lớp sụn bị thoái hóa hoàn toàn, hai đầu xương có thể cọ vào nhau khiến đầu xương bị tổn thương và gây đau. Nguyên nhân chính xác khiến lớp sụn bị thoái hóa còn chưa rõ. Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là sự kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm thừa cân, lão hóa, sang chấn hoặc stress ở khớp, di truyền và yếu cơ.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Các phương pháp chẩn đoán gồm khám thực thể, xét nghiệm máu và một số kỹ thuật hình ảnh, bao gồm chụp X quang, chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp khớp có thuốc cản quang. Các xét nghiệm hình ảnh có thể cho thấy gai xương, mòn sụn và hẹp khe khớp, là những dấu hiệu điển hình của thoái hóa khớp.

Điều trị

- Thuốc

  • Thuốc giảm đau tại chỗ: có nhiều sản phẩm không cần kê đơn ở dạng kem, gel, thuốc mỡ hoặc thuốc xịt để làm giảm đau tạm thời.
  • Acetaminophen. Acetaminophen có thể làm giảm đau nhưng không làm giảm viêm và có hiệu quả với người bị thoái hóa khớp từ nhẹ đến vừa.
  • Thuốc chống viêm phi steroid (NSAID) có tác dụng giảm đau và chống viêm. Thuốc có nhiều loại, từ những thuốc không cần kê đơn như aspirin, ibuprofen và naproxen natri tới những thuốc chỉ được dùng theo đơn bác sĩ như ketoprofen, diclofenac và nabumetone.
  • Chất ức chế COX-2 như celecoxib được xem là có hiệu quả giảm đau ngang với NSAID nhưng ít gây tác dụng phụ tiêu hóa hơn.
  • Tramadol. Là thuốc giảm đau có tác dụng trung ương có thể làm giảm đau một cách hiệu quả với ít tác dụng phụ, như loét và chảy máu dạ dày, hơn các NSAID.
  • Thuốc chống trầm cảm: Các thuốc chống trầm cảm, nhất là loại 3 vòng, có thể giúp làm giảm đau mạn tính.
  • Tiêm thuốc vào khớp. Các thuốc thường dùng là corticosteroid và các dẫn xuất acid hyaluronic.

- Phẫu thuật và các thủ thuật khác

  • Thay khớp bằng khớp giả làm bằng nhựa hoặc kim loại.
  • Nội soi rửa và cắt lọc khớp.
  • Đặt lại xương.
  • Hòa nhập xương (đóng cứng khớp).

- Một số cách điều trị khác để làm giảm đau như châm cứu, bấm huyệt, bổ sung chất dinh dưỡng như glucosamine và chondroitin sulfat v.v…

theo http://www.cimsi.org.vn


Viêm khớp vảy nến

Viêm khớp vảy nến là tình trạng viêm các khớp xảy ra ở trẻ em và người lớn bị bệnh vảy nến. Vảy nến là một bệnh da liễu gây ra những mảng da dày và đỏ ở nhiều vùng trên cơ thể. Không phải ai bị vảy nến cũng bị viêm khớp vảy nến, nhưng tất cả những người bị viêm khớp vảy nến đều bị vảy nến.

Dấu hiệu và triệu chứng

Viêm khớp vảy nên có thể xảy ra ở một hoặc nhiều khớp. Các dấu hiệu và triệu chứng cơ bản của viêm khớp vảy nến là khớp sưng, nóng, đỏ và đau xảy ra trên người đã có chẩn đoán bị bệnh vảy nến.

Các kiểu đau khớp trong viêm khớp vảy nến:

· Đau khớp ở một bên cơ thể: Chỉ ảnh hưởng đến các khớp ở một bên của cơ thể hoặc các khớp khác nhau ở mỗi bên – bao gồm khớp háng, khớp gối, cổ chân hoặc cổ tay. Sưng và viêm có thể làm cho đầu ngón chân ngón tay có hình dùi trống.

· Đau khớp ở cả hai bên cơ thể: Viêm khớp vảy nến đối xứng thường tác động đến 4 hoặc nhiều khớp cùng tên ở cả hai bên. Hay gặp ở phụ nữ hơn ở nam giới và bệnh vảy nến thường nặng hơn.

· Đau các khớp ngón tay: Viêm khớp vảy nến chủ yếu gây đau các khớp liên đốt xa ít gặp và thường xảy ra ở nam giới.

· Đau cột sống: Viêm cột sống vảy nến có thể gây cứng và viêm ở cột sống cổ, thắt lưng hoặc khớp cùng chậu. Viêm cũng có thể xảy ra ở gân và dây chằng ở cột sống.

· Viêm khớp phá huỷ. Một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân viêm khớp vảy nến bị viêm khớp biến dạng,. Bệnh phá huỷ các xương nhỏ ở bàn tay, nấht là ngòn tay, dẫn đến biến dạng và tàn phế vĩnh viễn.

Nguyên nhân

Bệnh vảy nến và viêm khớp vảy nến là những bệnh tự miễn trong đó đáp ứng miễn dịch bất thường gây viêm khớp cũng như gây tăng sinh tế bào da. Chưa rõ lý do tại sao hệ miễn dịch lại có đáp ứng như vậy, nhưng có vẻ như cả yếu tố môi trường và di truyền đều có vai trò. Chấn thương hoặc nhiễm trùng có thể gây viêm khớp vảy nến ở những người đã có sẵn cơ địa di truyền dễ bị bệnh.

Xét nghiệm và chẩn đoán

· X quang: giúp phát hiện những thay đổi ở khớp không xảy ra trong những bệnh khác.

· Xét nghiệm dịch khớp: Có tinh thể acid uric trong dịch khớp cho thấy bệnh nhân bị bệnh gút chứ không phải viêm khớp vảy nến.

· Tốc độ máu lắng: Tốc độ máu lắng tăng báo hiệu tình trạng viêm.

· Yếu tố thấp (RF): Là một kahgns thể thường có trong máu bệnh nhân viêm khớp dạng thấp nhưng không có trong viêm khớp vảy nến.

Điều trị

- Thuốc

Thuốc chống viêm phi steroid.

· Corticosteroid .

· Thuốc chống thấp có tác dụng biến đổi bệnh (DMARD) như sulfasalazine, hydroxychloroquine và methotrexate.

· Thuốc ức chế miễn dịch

· Chất ức chế TNF-alpha như etanercept, adalimumab và infliximab.

- Phẫu thuật để giảm đau và phục hồi khả năng vận động khi các biện pháp điều trị khác không làm giảm được triệu chứng.

Phòng bệnh

Do chưa rõ nguyên nhân gây bệnh và các yếu tố di truyền có đóng vai trò, nên gần như không thể làm được gì để phòng ngừa. Tuy nhiên phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự tàn phế.

theo http://www.cimsi.org.vn

Girls Generation - Korean