Saturday, November 29, 2008

Thuốc chẹn beta - lợi tiểu

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết


DÙNG THUỐC CHẸN BÊTA, LỢI TIỂU

TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH TIM MẠCH

THUỐC CHẸN BÊTA

Hiện tượng chẹn bêta có nghĩa là chặn, ức chế hoạt động của các thụ thể bêta adrenergic. Chúng nằm trong màng tế bào, ví dụ tế bào sợi cơ tim; chúng đối diện với các đầu mút (tận cùng) cuối các dây thần kinh giao cảm là nơi phóng ra các hạt noradrenalin. Các hạt này được các thụ thể bêta adrenergic đón nhận và tạo nên hiệu quả kích thích giao cảm. Nay các hạt của thuốc chẹn bêta có cấu trúc (kể cả đầu ghép) tương tự với các hạt noradrenalin kia nên đã “trá hình” chui vào được thụ thể, choáng chỗ nên tranh bớt phần của các hạt noradrenalin. Vì vậy hiệu quả kích thích giao cảm tại những tế bào này bị giảm hẳn tức bị ức chế. Sự ức chế như thế (bằng cách trá hình và choán chỗ) gọi là ‘ức chế theo cơ chế cạnh tranh’.

Sự giảm kích thích giao cảm như nêu trên sẽ tạo ra các tác dụng như:

1. Đối với cơ tim:

· Giảm sự co bóp tâm thất (‘co sợi cơ âm tính’), giảm công cơ tim [vậy chẹn bêta là thuốc chủ đạo trong điều trị ‘bệnh tim thiếu máu cục bộ’ (Bệnh mạch vành), nhưng làm nặng những suy thất đã rõ rệt].

· Giảm (tức làm chậm, kéo dài thời gian) sự dẫn truyền đến có thể gây blôc nhĩ-thất, blôc xoang-nhĩ [vậy thuốc chẹn bêta không dùng khi sẵn có blốc dẫn truyền].

· Làm nhịp tim bớt nhanh, kể cả khi gắng sức, trong đó thời gian tâm trương (ttr) được dài ra [vậy lợi cho chữa một số loạn nhịp nhanh, suy tim, hội chứng tăng động, suy vành (vốn cần tăng đổ đầy cuối ttr để tăng lượng máu từ động mạch chủ sang động mạch vành, cần kéo dài thời gian tưới máu các tế bào cơ tim thất trái vốn chỉ thu nhận máu chủ yếu vào kỳ ttr mà thôi)].

· Kéo dài thời kỳ trơ của sợi cơ tim [vậy chẹn bêta có tác dụng chống loạn nhịp]

· Bị chú: chẹn bêta liều cao có thể làm co mạch nhẹ (kể cả mạch vành) vì khi có sự chẹn hẳn các thụ thể bêta thì do không còn sự đối kháng (đối “trọng” để giữ một cân bằng động) từ phía thụ thể bêta nữa, các thụ thể alpha sẽ hoạt hóa gây co mạch [vậy thuốc chẹn bêta chống chỉ định trong ĐTN biến thái].

2. Đối với hệ RAA (renin-angiotensin-aldosteron):

Giảm hoạt tính renin trong huyết tương. Do đó giảm Angiotensin II lưu thông và giảm Aldosteron trong huyết tương [vậy thuốc chẹn bêta chữa THA]

3. Đối với các phế quản: Thông qua các thụ thể ‘bêta 2’ rất nhiều ở màng tế bào cơ trơn thành phế quản) thuốc chẹn bêta gây co thắt, tăng tính phản ứng phế quản [vậy chống chỉ định trong hen phế quản, viêm phế quản thể hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính-COPD).

CÁC CHỈ ĐỊNH

1. Tăng huyết áp (THA)

2. Đau thắt ngực gắng sức

3. Phòng ngừa (chống đột tử) sau NMCT

4. Loạn nhịp tim (nhất là Loạn nhịp nhanh trên thất).

5. Bệnh cơ tim tiên phát phì đại

6. Bệnh Basedow: khi cơn cường giáp và tiền phẫu

7. Tăng áp tĩnh mạch cửa: phòng ngừa tái phát xuất huyết thực quản ở những bệnh nhân xơ gan

8. Bệnh lý ngoài tim mạch : chứng đau nửa đầu, chứng run vô căn, tăng nhãn áp (glaucome) góc mở (dùng Timolol)

9. Suy tim trái nhẹ và vừa (nhưng chống chỉ định nếu suy tim nặng ví dụ phân suất tống máu EF<35%)>

PHẢN ỨNG PHỤ (BẤT LỢI):

+ Một trong bộ ba (1) nhịp chậm/ bloc nhĩ-thất, (2) suy tim, (3) co thắt phế quản

+ Rối loạn vận mạch đầu chi

+ Các rối loạn thần kinh trung ương, ác mộng, mất ngủ: nên thay các chẹn bêta ưa mỡ dễ xâm nhập não bằng các chẹn bêta ưa nước

+ Liệt dương.

+ Rối loạn Lipid máu (hạ HDLc, tăng Triglycerid)

CÁC CHỐNG CHỈ ĐỊNH

1. Về tim mạch :

+ Suy tim rõ rệt, loạn chức năng tâm thu với phân suất tống máu <>

+ Blôc nhĩ-thất độ II và độ III ;

+ Hội chứng Raynaud, bệnh động mạch chi nặng (giai đoạn III - IV)

2. Về hô hấp : bệnh phổi tắc nghẽn mạn (do viêm phế quản mạn, hen phế quản)

3. Tiểu đường đang dùng Insulin (vì nếu xảy hạ đường huyết thì các biểu hiện lâm sàng của hạ đường huyết sẽ bị che khuất)

SỬ DỤNG THẬN TRỌNG

1. Nếu ngưng thuốc phải giảm liều rất từ từ để tránh hiện tượng tái bùng phát THA và ĐTN.

2. Không phối hợp với thuốc nào cũng gây nhịp chậm (Verapamil, Diltiazem…)

3. Nếu chẳng may quá liều thuốc chẹn bêta: Atropin (1,2mg chích tm). Hoặc truyền tm Dobutamin (vuợt 10-15mg/kg/phút). Đó là thuốc kích thích bêta adrenergic.


NHÓM THUỐC LỢI TIỂU

Thuốc lợi tiểu (LT) là chất làm tăng khối lượng nước tiểu và tăng bài xuất Natri niệu. Vậy LT hữu ích trong điều trị tăng huyết áp (THA), suy tim, phù nề.

MỘT SỐ LỢI TIỂU THƯỜNG DÙNG

1. Các dẫn chất sulfonamid :

- Các thiazid: ví dụ Chlorothiazid (bd Diuril). Từ Chlorothiazid tổng hợp ra Hydrochlorothiazid (bd Hypothiazid) còn có hoạt tính giãn mạch ngoại vi tức tác dụng hạ áp.

- Indapamid (bd Fludex, Natrilix…): tác dụng lợi tiểu ít, dùng để trị THA, có ưu thế hơn các LT khác ở chỗ không gây rối loạn lipid máu.

2. Các dẫn chất của acid carboxylic: gọi là LT quai (vì vị trí tác dụng tại quai Henlé) là LT thải nước mạnh nhất, không thải Na là chủ yếu như các thiazid.

- Furosemid (bd Lasilix, Lasix, Trofurit); Bumetanid

- Acid etacrynic; acid tienilic. Riêng acid tienilic là LT duy nhất giảm được uric máu.

3. Nhóm Spironolacton và thuốc tương tự: khác nhóm 1&2, tiết kiệm Kali.

a. Spironolacton (bd Aldactone) và Kali canrenoat (bd Phanurane, Soludac- tone) đối kháng với cường aldosteron thứ phát vốn gây ra tái hấp thu tối đa Natri mà thải mất Kali.

b. Triamteren và Amilorid đạt tác dụng tương tự (tăng thải Natri, mà giữ lại Kali) nhưng không cần sự có mặt của aldosteron.

XẾP LOẠI CÁC LT TRÊN THEO VỊ TRÍ TÁC DỤNG

Các LT được tiết ra ở một đoạn nhất định của nephron rồi sẽ tác dụng ở phía dưới trong một khu vực nhất định của nephron:

1. LT quai (ví dụ Furosemid): vị trí II

a. Ở tại quai Henlé, ức chế sự tái hấp thu Natri clorua.

b. Nếu ở liều rất cao còn ức chế cả sự tái hấp thu đẳng áp thẩm thấu của Natri tại vị trí I tức ống lượn gần.

2. Các thiazid và LT tương tự: tác dụng (ức chế tái hấp thu Natri) ở đoạn pha loãng tức là khởi đầu của ống lượn xa - vị trí III.

3. Spironolacton và các LT tiết kiệm Kali khác: tác dụng ở ống lượn xa tức đoạn cuối cùng của Nephron - vị trí IV :

a. Spironolacton: kháng aldosteron với nghĩa chẹn (khoá, chặn) hiện tượng cường aldosteron thứ phát. Cơ chế sự chẹn này là ngăn việc gắn aldosteron lên các thụ thể Protein và ngăn cản sự chuyên chở Na+ từ lòng ống lượn xa xuyên qua biểu bì (tại vị trí IV này) trở vào cơ thể và ngăn chặn ion K+ đi hướng ngược lại.

b. Triamteren và Amilorid: ức chế trực tiếp sự chuyên chở ion (tức không thông qua việc ức chế aldosteron) do đó giảm tái hấp thu Na+ (từ ống lượn xa ra) và ức chế việc bài xuất (vào ống lượn xa để thải ra ngoài) các ion K+ và Hydro

Phân loại lợi tiểu phục vụ lâm sàng

1. LT giảm Kali máu (còn gọi LT có nguy cơ hạ Kali máu) : chúng ức chế việc tái hấp thu Natri ở phía thượng nguồn của ống lượn xa, nhưng lại tăng bài xuất Kali.

a. LT tác dụng đặc biệt mạnh nhưng ngắn: Furosemid, Bumetanid

b. LT tác dụng vừa nhưng kéo dài hơn: các Thiazid

c. LT tác dụng yếu : ức chế anhydrasa carbonic ví dụ Acetazolamid (nhãn khoa).

2. LT tăng Kali máu (còn gọi là ‘LT tiết kiệm Kali’): ức chế sự “tái hấp thu Na đổi lấy bài xuất Kali”. Do đó tăng vừa sự bài xuất Na+ và giảm bài xuất ion K+ (và Proton H+)

a. LT đối kháng aldosteron: Spironolacton và dẫn chất (Kali canrenoat)

b. LT không đối kháng aldosteron (tác dụng cả khi không có aldosteron): Triamteren, Amilorid.

CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ

1. Suy tim và phù nề của suy tim

Vì sao để giúp gia tăng hiệu quả lợi tiểu, nên Phối hợp trị liệu bằng nhiều LT khác nhau về vị trí tác dụng, trong đó Spironolacton có vai trò đặc biệt quý:

. Dùng kháng aldosteron và các LT tiết kiệm Kali khác (vị trí IV) thường chỉ có hiệu lực khi kết hợp thêm LT có vị trí tác dụng ở phía thượng nguồn [LT quai ví dụ Furosemid (vị trí II) hoặc LT của phần đầu ống lượn xa ví dụ Thiazid (vị trí III) ]bởi lẽ nếu ở đây đã không có thuốc gì ngăn sự tái hấp thu Na mạnh thì chẳng còn bao nhiêu Na+ tới ống lượn xa để cho các LT của vị trí IV biểu lộ tính năng.

. Còn ngược lại, nếu đã kết hợp thuốc thì Spironolacton sẽ “duy trì” tác dụng bài niệu và bài xuất Natri cả ở phía hạ lưu của ống lượn xa nữa.

Chế độ giảm muối (không cần cữ quá mức) luôn cần thiết khi dùng LT.

2. Suy thận: chỉ các LT quai là dùng được, và dùng rất thận trọng

3. THA: LT giảm thể tích rồi sau đó giảm lực kháng ngoại vi, tăng bài Natri niệu

PHẢN ỨNG PHỤ (BẤT LỢI)

1. Giảm quá mức Natri máu khi dùng LT (hiếm xảy ra) có thể do lạm dụng các Thiazid vốn thải Natri là chủ yếu làm máu bị pha loãng (trong các phù nề trơ của suy tim, xơ gan). Ở đây cần chọn LT quai là LT tăng thải nước tự do.

2. Rối loạn điện giải Kali

a/ Hạ Kali máu do LT xảy ra ở bệnh nhân kém ăn (ví dụ bệnh nhân xơ gan) hoặc lạm dụng thuốc nhuận trường. Cách xử trí:

. Hãy dùng LT tiết kiệm Kali,

. hoặc phối hợp với LT tiết kiệm Kali (nhưng vẫn không thể cân bằng hoàn toàn vấn đề Kali máu vì độ dài tác dụng của từng thuốc LT khác nhau...)

. Vậy phải theo dõi để điều chỉnh liều lượng mỗi LT trong phối hợp LT ấy.

. Bù Kali, nếu cần.

. Phối hợp với UCMC sẽ làm tăng Kali máu, tựa như bù Kali vậy.

b/ Tăng Kali máu do LT tiết kiệm K dễ xảy ra khi suy thận hoặc tiểu đường.

3. Tăng đường huyết do LT: các LT không tiết kiệm K có tác dụng phân hủy Glycogen làm nặng thêm bệnh tiểu đường có sẵn.

4. Tăng Uric máu do LT (nhất là LT quai) có thể xúc tiến những đợt thống phong (gout). Nhưng gout này dễ hồi phục.

Riêng LT acid tienilic, ngược lại, thì tăng bài uric niệu (nhưng có thể gây kết tủa urat trong ống thận). Kết hợp hai nhóm LT quai với LT acid tienilic, nếu cần.

5. Rói loạn chuyển hóa mỡ do dùng LT kéo dài: tăng Triglycerid và tổng Cholesterol.

6. Suy thận chức năng do LT làm mất nhiều Na [khi dùng lâu amilorid, triamteren, benzothiazid (trừ LT quai)]: giảm lưu lượng máu qua thận, giảm lọc vi cầu thận.

7. Thoái hóa ống thận và xơ hóa mô kẽ do LT: nếu hạ Kali máu nặng và kéo dài.

8. Những phản ứng phụ bất lợi hiếm do LT (xảy ra ở những bệnh nhân kém dinh dưỡng, cữ mặn quá mức, cao tuổi): hạ bạch cầu, hạ tiểu cầu (do thiazid); thiếu máu (do triamteren); giảm thính lực (do acid etacrinic); vú to và rối loạn kinh nguyệt (do spironolacton).


Tên bài giảng: DÙNG THUỐC CHẸN BÊTA, LỢI TIỂU TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH TIM MẠCH THUỐC CHẸN BÊTA
Nguồn: giangduongykhoa.uni.cc
http://baigiang.bachkim.vn/presentation/show/pr_id/152388


Các loại thuốc

Tên bài giảng: CÁC LOẠI THUỐC
Nguồn: NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG - TRUNG CẤP QUÂN Y TPHCM
Dung lượng: 128.0 KB
Nội dung:

Dạng thuốc : Viên nén
Chỉ định : Điều trị hiểu quả những triệu chứng cảm thông thường , viêm mũi dị ứng , viêm mũi vận mạch , viêm màng nhầy xuất tiết do cúm , viêm xoang va các rối loạn đường hô hấp
Chống chỉ định: trong các trường hợp sau
Cao huyết áp nặng hoặc bị bệnh đọng mạch vành và ở những bệnh nhân đang sử dụng các thuốc úc chế monoamineoxidase
Không sử dụng cho những bệnh nhân quá mẫn cảm với tác đọng của các thuốc cường giao cảm khác hoặc với bất cứ thành phần nào của thuốc
Thận trọng với những bệnh nhân bi cường giáp, đái tháo đường , bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc phì đại tuyến tiền liệt ……
Cách dung : Uống
Liều dùng : 3 hay 4 lần một ngày
Người lớn ………………………………………1-2 viên
Trẻ em :
2-6 tuổi ……………………………1/2 viên
7-12 tuổi …………………………...1/2-1 viên.
hoặc theo sự hướng dẫn của thầy thuốc .
Đóng gói : Hộp 50 vỉ x 10 viên nén
Hộp 10 vỉ x 10 viên nén
Hộp 25 vỉ x 4 viên nén
Bìa kẹp 1 vỉ x 2 viên nén
Bìa kẹp 1 vỉ x 4 viên nén
Hạn dùng : 36 tháng
----------------------------------

Dang thuốc : viên nén
Chỉ định : điều trị các chứng ho do rố loạn tiết phế quản trong các chứng phế - phổi
Chống chỉ định : ho dạng suyễn .
Thông thường : Suy hô hấp ở mọi mức độ khác nhau( do thuốc có hiệu quả ức chế trên các trung tâm hô hấp và sự cần thiết , dự lại phản xạ ho )
Trẻ em dưới 5 tuổi , không dùng cho phụ nữ có thai hoặc cho con bú
Liên quan đến sự hiện diện của Codein
Cách dung : uống , dùng theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc hoặc ở liều trung bình
Người lớn : Uống 2 viên x 3 lần
Trẻ em : Từ 5 – 15 tuổi ; ngày 1 – 3 viên tuỳ theo tuổi
Đóng gói : Thuốc ép trong 1 vi x 10 viên
Hộp 10 vỉ x 10 viên nén
Hộp 100 vỉ x 10viên nén
Hạn sữ dùng : 36 tháng
----------------------------------

Tên biệt hiệu : Lactomacilli đông khô

Dạng thốc : Dạng hạt gói 1g

Chỉ định : Antibio được chỉ định trọng các trường hợp
Cân bằng hệ vi sinh đường ruột bị phá vỡ do dùng kháng sinh hoá trị liệu
Loạn khuẩn ruột , táo bón , tiêu chảy , bụng trướng ,
Lên men đường ruột thất thường

Cách dung : Uống

Liều dùng : Người lớn 1gói /lần x 3lần/ ngày , trẻ em 1gói/lần x 2lần/ ngày
Liều hướng dẫn : Tiêu chảy 4 – 8g/ngày , táo bón 6g/ngày
Rối loạn đường ruột do dùng kháng sinh
Phòng ngừa 2 gói mỗi ngày
Điều trị : 4 – 8 gói mỗi ngày cho đến khi hế triệu chứng

Đóng gói : Hộp 10gói x 1 g , hộp lớn chứa 10 hộp nhỏ

Hạn dùng : 36 tháng

----------------------------------

Biệt dược ; Paracetamol

Dạng thuốc : Viên sủi 500mg

Chỉ định : Hạ sốt và giảm đau
Điều trị cơn đau nhẹ đến vừa
- Đau nữa đầu , đau dầu , đau bụng kinh , đau họng , đau cơ xương khớp , sốt và đau sau tiêm phòng , đau sau các thủ thuật nha khoa/nhổ răng , đau răng , đau trong viêm khớp mãn tính

Chống chỉ định : Không dùng cho bênh nhân quá mẫn cảm với các thành phần của thuốc
Nên hỏi ý kiến Bác Sỹ trước khi dùng thuốc này nếu như bạn được chẩn đoán là suy gan hoặc suy thận

Cách dùng va liều dùng :
Người lớn , trẻ em 12 tuổi trở lên hoà tan 1-2 vien6 trong ít nhất nửa cốc nước cho mỗi 4-6 giờ nếu cần
Không được dùng cho trẻ dưới 12 tuổi
Khoảng cách tối thiểu dùng liều lặp lại : 4 giờ
Liều dùng tối đa cho người lớn 4000mg/ngày ( 8viên/ngày )
Không dùng quá liều quy định

Hạn dùng : 36 tháng

Bảo quản : ở nhiệt độ dưới36 độ C

Theo http://baigiang.bachkim.vn/presentation/show/pr_id/139565

Chương 1: Tảng Băng Trôi Nói Lắp

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

Định nghĩa

Theo từ điển, nói lắp là nói ngập ngừng không liên tục, hoặc kéo dài hoặc lập lại âm tiết (Từ điển American Heritage).

Tất cả những ai nói lắp đều thừa nhận rằng định nghĩa này quá ngắn như thể nó chỉ mô tả phần thấy được (hoặc đúng hơn là phần nghe được) của hiện tượng nói lắp.

Đối với người nói lắp, nói lắp thật sự bao hàm nhiều nghĩa hơn chỉ là sự lập lại về âm thanh.

Nói lắp cũng có nghĩa là cảm giác kỳ lạ mà bạn cảm nhận được trong lòng khi bạn biết bạn sắp sửa nói lắp.

Nói lắp có nghĩa là cảm thấy thất vọng, xấu hổ, tội lỗi và lòng tự trọng bị tổn thương.

Nói lắp nghĩa là bạn sẽ mua cái bánh táo thay vì mua bánh rán vì bạn cảm thấy chữ “bánh táo” (apple pie) dễ nói hơn chữ “bánh rán” (doughnut). Hoặc có thể bạn sẽ mua hai cái bánh rán thay vì chỉ một vì bạn cảm thấy cụm từ “hai cái bánh rán” (two doughnut) dễ nói hơn là “một cái bánh rán” (one doughnut). Rồi bạn ra vẻ ngạc nhiên sao mình không đói lắm để ăn hết cả hai.

Nói lắp nghĩa là bạn sẽ tìm ra đủ mọi lý do chính đáng để không yêu cầu tăng lương dù rõ ràng bạn xứng đáng được điều đó.

Nói lắp nghĩa là bạn để người khác hẹn hò với cô gái xinh đẹp nọ chỉ vì bạn lo lắng bạn sẽ nói lắp khi mời cô ta ăn tối.

Nói lắp cũng có nghĩa bạn dùng mọi kỹ thuật nói tránh như sử dụng những từ đệm (à… ừm… vâng… ừ….) hoặc dùng những chữ không thích hợp lắm chỉ vì bạn cảm thấy chúng dễ nói hơn.

Nói lắp nghĩa là bạn phải nghe người khác đưa ra những lời khuyên ngu ngốc và vô ích như “Bình tĩnh nào.” “Thở cái đã.” “Nói chậm thôi.”

Tảng băng trôi nói lắp

Nói lắp giống như một tảng băng trôi (xem hình vẽ trang 11): Nó có cả phần thấy được và phần không thấy được. Phần thấy được, phần tảng băng nổi trên mặt nước, chỉ chiếm khoảng 10% tổng khối lượng. 90% còn lại nằm dưới mặt nước và không thể nhìn thấy từ trên bề mặt.

Phần nói ngập ngừng không liên tục, hoặc kéo dài hoặc lập lại âm tiết tượng trưng cho phần thấy được của “Tảng Băng Trôi Nói Lắp” và chỉ là một phần nhỏ của hiện tượng này.

Phần bị khuất của tảng băng trôi nói lắp bao gồm những điều sau:

Sự căng cơ của hệ thống Valsalva:

Điều này sẽ được mô tả chi tiết trong chương sau.

Những kiểu thở bất bình thường:

Người nói lắp thường có những kiểu thở khác thường và gặp khó khăn trong việc vừa thở vừa nói. Thỉnh thoảng họ cố gắng nói với ít hơi thở ra từ phổi hoặc vừa nói vừa hít hơi vào.

3) Những xúc cảm, tình cảm và nhận thức tiêu cực như sự xấu hổ, mặc cảm tội lỗi, sự thất vọng, sự ngượng ngùng, lòng tự trọng bị tổn thương, thiếu tự tin:

Người nói lắp thường hay cảm thấy hổ thẹn vì không có khả năng nói trôi chảy và họ thường cảm thấy vô dụng vì những khó khăn họ gặp khi phải giao tiếp với người khác. Họ cảm thấy tội lỗi vì không thể đạt được những gì họ cảm thấy họ sẽ đạt được nếu họ nói trôi chảy. Họ cảm thấy lúng túng vì nói không lưu loát và làm người nghe mất kiên nhẫn.

Nỗi sợ với những tình huống nói chuyện đặc biệt:

Hầu hết người nói lắp đều sợ những tình huống nói chuyện đặc biệt như sử dụng điện thoại, gọi thức ăn trong nhà hàng, hỏi thăm đường… Nói lắp luôn là tình trạng nhạy cảm. Nó tuỳ thuộc vào mỗi cá nhân nhưng một người nói lắp điển hình sẽ nói lắp hơn khi nói chuyện với những nhân vật có thẩm quyền như viên cảnh sát, cha mẹ, thầy cô hay người chủ của mình. Người nói lắp sẽ không hề nói lắp khi nói chuyện một mình hoặc với vật nuôi khi không có ai bên cạnh. Người nói lắp thường ít nói lắp hơn khi nói chuyện với người phối ngẫu của mình có lẽ vì người chồng hoặc người vợ của người ấy là người khá thân thiết.

Sử dụng từ đệm:

Khi một người nói lắp cảm thấy có điều gì đó cản trở lời nói thì người thường thêm vào những từ vô nghĩa như: “ừm”, “ừ”, “à”, “vâng”, “ờ”… Mọi người đều có xu hướng dùng những từ vô nghĩa như thế nhưng xu hướng này xảy ra khá thường xuyên hơn đối với người nói lắp. Người nói lắp luôn cảm thấy những từ vô ích đó sẽ giúp họ có một khởi đầu liền lạc và giúp họ nói nhanh qua những từ khó nói.

Kỹ thuật nói tránh:

Khi một người nói lắp cảm thấy sẽ gặp khó khăn khi nói một từ cụ thể nào đó, người ấy thường sử dụng từ khác với nghĩa tương đương. Thường thì từ thay thế này kém chính xác hơn và điều này sẽ ngày càng khiến người cảm thấy không thể giao tiếp có hiệu quả được. Người nói lắp thỉnh thoảng sẽ nói hoàn toàn khác với những điều họ muốn nói.

Kìm nén không nói:

Một cách khác để tránh bị nói lắp là không nói. Chắc chắn bạn nhớ đã phải nghe người nào đó lảm nhảm những lời vô nghĩa chỉ vì người đó sợ phải nói. Đây hẳn là một trong những tình huống gây nản lòng nhất mà người nói lắp phải chịu đựng.

Tránh nhìn vào mắt:

Người nói lắp có khuynh hướng tránh nhìn vào mắt người nghe. Họ làm vậy có lẽ vì họ không thể chịu đựng nổi khi thấy phản ứng của người nghe khi họ bị nói lắp. Thái độ này sẽ gây ra khó khăn khi muốn giao tiếp hiệu quả với người khác.

Xu hướng đứng bất động:

Người nói lắp có thể quá sợ nói lắp đến nỗi họ khó mà dùng ngôn ngữ cử chỉ khi nói chuyện.

Nói nhỏ:

Nhiều người nói lắp nói nhỏ vì họ không muốn quá nhiều người nghe họ nói không trôi chảy.

Khuynh hướng chống lại sự thay đổi:

Về phương diện ý thức, rõ ràng hầu hết người nói lắp đều ước ao họ có thể nói trôi chảy. Nhưng khuynh hướng chống lại sự thay đổi là bản tính cố hữu của con người. Một người nói lắp biết rằng nếu người ấy nói trôi chảy thì dĩ nhiên là người sẽ nói nhiều hơn và hoà nhập với xã hội hơn nhưng tiềm thức của người có thể nghĩ rằng người không thể làm được điều đó. Do đó, tiềm thức sẽ chống lại sự thay đổi và phá hỏng mọi nỗ lực nói trôi chảy.

Bây giờ bạn đã bắt đầu hiểu được khái niệm nói lắp không chỉ đơn thuần là vấn đề về lời nói. Nó là vấn đề liên quan đến toàn bộ thân thể và tâm trí. Nói lắp ảnh hưởng đến con người về mọi mặt, bao gồm mọi cách cư xử, xúc cảm, tình cảm và nhận thức.

Một liệu pháp mà chỉ tập trung vào giải quyết việc nói không lưu loát chắc chắn sẽ thất bại. Chỉ có cách tiếp cận toàn diện và chỉnh thể bao gồm cách cư xử, nhận thức và tình cảm gắn liền với tật nói lắp thì mới có thể thành công.

Chương tiếp theo sẽ mô tả sự căng cơ của hệ thống Valsalva sẽ ngăn trở việc nói như thế nào. Trong chương 3, chúng ta sẽ thấy các yếu tố khác nhau trong Tảng Băng Trôi Nói Lắp tương tác và hỗ trợ nhau ra sao.

Friday, November 28, 2008

Giới thiệu

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

Tên gốc tiếng Anh của quyển sách này là Self-therapy for the stutterer. Tác giả của quyển sách là Malcolm Fraser, người sáng lập ra tổ chức nói lắp ở Mỹ ( Stuttering Foundation of American). Đến nay, quyển sách được tái bản lần thứ mười (xuất bản đầu tiên năm 1978) và được dịch ra rất nhiều thứ tiếng khác nhau. Mong rằng trong thời gian tới, nó sẽ được chính thức dịch ra tiếng Việt. Người dịch Trương Minh Sử Nhiên.

GỬI ĐỘC GIẢ

Một số người nói lắp (NNL) không có điều kiệnđể được chữa trị hẵn hoi. Một số thì không phù hợp với phương pháp điều trị. Số khác thì thích tự mình chữa cho mình.

Trong cuốn sách này, Malcolm Fraser, người sáng lập tổ chức nói lắp ở Mỹ, đưa ra những lời chỉ dẫn phù hợp cho việc tự điều trị. Vốn là người từng nói lắp, tác giảhiểu rõ nổi khó khăn trong quá trình tự điều trị. Chính vì thế ông liệt kê ra hàng loạt những mục tiêu và khó khăn có thể. Nó sẽ soi đường dẫn lối cho những ai đã từng sống trong thảm cảnh với tật nói lắp (TNL) và muốn tìm đường giải thoát.

CHARLES VAN RIPER

Giáo sư danh dự, trưởng khoa nguyên cứu bệnh khoa âm học và thính học Đại học Miền Tây Michigan.

CÁCH TIẾP CẬN

Để áp dụng thành công, phải áp dụng phương phápnày một cách triệt để. Bạn phải nghĩ rằng bạn đang đi dúng hướng. Bạn phải nhất định thi hành theo đúng chương trình. Lập kế hoạch thật tốt và hãy hết sức siêng năng thực hành .

Tất cả ý trong sách đều dựa trên một giả thuyết là “TNL có thể thay đổi được”. Điều này nói rằng bạn có thể học để giải quyết khó khăn của mình, một phần là thay đổi cảm nghĩ và thái độ, và phần khác trừ khử hoặc chỉnh đốn những hành vi bất thường gắn liền với những trở ngại khi nói lắp.

Quyển sách này dành cho người đã lớn mà vẫn còn nói lắp ( kể cả thanh thiếu niên). Nó sẽ cho bạn biết những điều mình có thể làm và nên làm để điều trị. Bạn sẽ không phải đầu hàng nổi khó khăn trong giao tiếp của mình. Bạn có thể thay đổi cách mình nói chuyện. Bạn có thể học cáhc giao tiếp một cách thanh thản thay vì phải cố gắng gò bó. Không có một phương pháp nào dễ dàng và nhanh chóng cả, nhưng với cách tiếp cận đúng đắn, phương cách tự diều trị sẽ hữu hiệu.

Kinh nghiệm thực tế của bạn chỉ làm chỉ gây ra sự ngờ vực về giải pháp.Có thể trong quá khứ, bạn đã từng thất vọng ở một số phương pháp điều trị nào đó. Cuốn sách này không hề hứa hẹn một phương pháp huyền bí nào và cũng không tuyên bố điều gì sai trái. Nó chỉ giúp bạn nhận biết những điều có thể làm và điều gì nên làm để gia tăng sự tự tin và khắc phục khó khăn.

Quyển sách nêu ra một phương pháp điều trị thực nghiệm mang tính logic, dựa trên phương pháp mà đã được áp dụng thành công ở nhiều trường đại học và bệnh viện chuyên khoa về thanh học. Hiện thời không có một phương pháp nào dễ và tốt hơn thế nữa. (bổ sung, quyển sách này đã được dịch sang 12 thứ tiếng: Đức, Pháp,Tây Ban Nha, Nhật Lithua, Phần Lan, Slovakia, Dani, Nga, Séc, Zulu và Trung Quốc. Dĩ nhiên có Việt Nam nữa đúng không? :))

Chúng tôi bắt đầu với hai giả định. Thứ nhất là bạn không gặp vấn đề vật lý ở cơ chế phát âm thì bạn sẽ nói lưu loát nhanh thôi. Bạn có thể nói chuyện bình thường khi ở một mình, hoặc không có sự nhòm ngó của ai khác. Thực tiễn, những NNL như chúng tôi cũng có lúc nói lưu loát và rất lưu loát . Thứ hai, bạn phải là người điều trị cho chính mình. ( ý của tác giả là:Các chuyên gia dù giỏi đến mấy thì họ cũng chỉ có việc nghiên cứu và cung cấp thông tin cho bạn mà thôi. Vấn đề chính yếu là ở bạn, bạn phải tự điều trị cho chính mình - người dịch)

Nếu bạn thật sự quan tâm đến việc cải thiện vấn đề, bạn cần có một động lực nhất định và kiên quyết làm theo những lời đề nghị ở đây.

Tầm quan trọng của động lực không thể phóng đại được. Kết quả thành công hay thất bại của phương pháp điều trị sẽ phụ thuộc vào tính kiên quyết của bạn. Không dễ dàng tí nào, nhưng có thể thực hiện được.

Mặt khác, khoong có cách nào hứa hẹn thành công cả. Bởi vì không có cách chữa trị nói lắp nào là chắc chắn, ngoài những thứ mà bạn đã được đọc. Tuy vậy, Nếu bạn nghiêm túc theo những lời đề nghị ở đây, bạn sẽ chế ngự được TNL và nói chuyện lưu lóat hơn. Thực tế rất nhiều người đã làm được như vậy, bạn cũng sẽ làm được như họ thôi.

Cách tốt nhất để đánh giá tính hiệu quả của một phương pháp là cứ việc thử nghiệm để cho kết quả tự trả lời.

TNL kể ra cũng đa dạng lắm. Mức độ nghiêm trọng và tần xuất xảy ra cũng khác nhau theo thời gian và hoàn cảnh. Thỉnh thoảng, bạn có thể nói lưu loát ít nhiều. Nhưng bạn lại gặp rắc rối ở một số trường hợp, vị thế khác. Hầu hết những NNL thường gặp phải khó khăn nhất khi bối rối hoặc khi đứng trước một rắc rối. Điều đáng chú lý là đa số NNL sẽ gặp khó khăn khi nói chuyện với những người có quyền lực cao hơn như là nhà tuyển dụng, thầy giáo hay khi tự giới thiệu trước đám đông hoặc nghe điện thoại… Nhưng họ lại không gặp trở ngại hoặc ít hơn khi nói chuyện một mình hoặc với trẻ em hoặc với con vật nuôi trong nhà.

Trường hợp nữa đáng lưu ý là những NNL những phản ứng đặc thù trong cơn bối rối. Không tồn tại hai kiểu NNL giống nhau, bởi vì mỗi người đều xây dựng một kiểu nói lắp cho riêng mình.

Hầu hết họ đều có những khả năng đáng ngạc nhiên. Họ ít hoặc không gặp rắc rối gì khi hát, la hét, nói thì thầm hoặc nói đồng loạt với người khác. Nếu bạn thật sự không gặp vấn đề khi nói một mình hoặc khi đọc, nói đồng lọat với người khác thì khả năng vật lý của bạn đủ tốt để cho bạn nói chuyện bình thường. Điều này nói rằng những điều lo lắng, sợ sệt, sự căng thẳng… là không cần thiết và vô nghĩa. Chúng chỉ gây rối thêm cho bạn.

Và điều quan trọng nữa, TNL không ảnh hưởng gì đến khả năng tư duy cả. Thống kê chó thấy chỉ số thông minh I.Q. của những NNL ở mức bình thường và cao hơn mức bình thường ( những nhât vật nổi tiếng bị nói lắp rất thông minh như Winston Churchill, Charles Darwin, Lewiss Carroll….)

NGUYÊN NHÂN CỦA TNL

Nhiều NNL hay tin một cách sai lầm rằng sẽ tìm ra được nguyên nhân chính và phương pháp chữa trị hiệu quả, tốc hành. Có nhiều giả thuyết đưa ra để giải thích về nguyên nhân tự nhiên của TNL. Nhưng đến giờ này, không có giả thuyết nào chứng minh được.

Một nghiên cứu đáng ghi nhận và đang được đầu tư đáng kể là sự ảnh hưởng của thần kinh, sự lấn át của một bán cầu não trên một bán cầu não khác, và những nhân tố gây ra sự thiếu liên kết các cơ thanh âm gây ra chứng nói lắp. Yếu tố di truyền cũng đóng một vai trò đáng kể ở những NNL.

Dù nguyên nhân nào đi nữa, điều bạn cần quan tâm bây giờ là làm gì để khắc phục nó chứ không phải quan tâm đến chuyện đã qua.

Không cứ gì, bạn phải nói lắp một cách vô vọng trong suốt quãng đời còn lại. Bạn có thể lấy lại sự tự tin và giao tiếp trôi chảy thôi. Người khác làm được, ắt bạn sẽ làm được.

Mục Lục

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

Lời Mở Đầu

Phần I - Mô Tả Lý Thuyết về Tật Nói Lắp

Chương 1: Tảng Băng Trôi Nói Lắp

Chương 2: Căng Cơ Sai

Chương 3: Sự Tương Tác Giữa Những Yếu Tố Khác Nhau Trong Tảng Băng Trôi Nói Lắp

Chương 4: Tảng Băng Trôi Nói Trôi Chảy

Phần II - Liệu Pháp Chữa Tật Nói Lắp Dành Cho Người Lớn Và Thanh Thiếu Niên

Lời Tựa

Loạt Bài Luyện Tập Đầu Tiên - Kiểm Soát Valsalva

Bài Luyện Tập 1: Cố Tình Nói Lắp

Bài Luyện Tập 2: Làm Giãn Trực Tràng Của Bạn

Bài Luyện Tập 3: Thở Bằng Bụng

Bài Luyện Tập 4: Không Nên Thực Hiện Nghiệm Pháp Valsalva Khi Không Cần Thiết

Bài Luyện Tập 5: Thay Đổi Cách Thân Thể Bạn Phản Ứng Với Stress

Bài Luyện Tập 6: Thay Đổi Cách Bạn Hiểu Về Lời Nói

Bài Luyện Tập 7: Phát Âm!

Bài Luyện Tập 8: Thở Và Nói Từ Từ

Bài Luyện Tập 9: Nói Thành Tiếng

Bài Luyện Tập 10: Kỹ Thuật Demosthene

Bài Luyện Tập 11: Luyện Tập Mỗi Ngày

Loại Bài Luyện Tập Thứ Hai - Thay đổi Cách Cư Xử, Nhận Thức Và Cảm Xúc Của Bạn

Bài Luyện Tập 12: Lắng Nghe Người Khác

Bài Luyện Tập 13: Bạn Không Cô Đơn

Bài Luyện Tập 14: Nhớ Lại Những Trải Nghiệm Thú Vị Khi Bạn Nói

Bài Luyện Tập 15: Thừa Nhận Tật Nói Lắp Của Bạn

Bài Luyện Tập 16: Hành Xử Như Người Không Bị Nói Lắp

Bài Luyện Tập 17: Gương Soi

Bài Luyện Tập 18: Nhìn Vào Người Đối Diện

Bài Luyện Tập 19: Cử Động Thân Thể

Bài Luyện Tập 20: Nói Bằng Cả Thân Thể

Bài Luyện Tập 21: Làm Thế Nào Để Ngắt Lời Người Khác

Bài Luyện Tập 22: Nói Lớn!

Bài Luyện Tập 23: Hát!

Bài Luyện Tập 24: Ngắt Giọng!

Bài Luyện Tập 25: Bày Tỏ Cảm Xúc Của Bạn

Bài Luyện Tập 26: Đừng Ngập Ngừng Không Nói

Bài Luyện Tập 27: Hãy Làm Chủ

Bài Luyện Tập 28: Công Khai Bày Tỏ Ý Định Giấu Kín Của Bạn

Bài Luyện Tập 29: Đừng Lẩn Tránh

Bài Luyện Tập 30: Thể Hiện Thái Độ Tích Cực

Kết Luận

Phần III - Liệu Pháp Chữa Tật Nói Lắp Dành Cho Trẻ Em

Chương 1: Con Của Bạn Nói Lắp

Chương 2: Liệu Pháp Gián Tiếp

Chương 3: Liệu Pháp Trực Tiếp

Thư Mục Tham Khảo


Lời Mở Đầu

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào "tiêu đề" hoặc "đọc thêm..." để xem toàn bộ bài viết

Bạn là người nói lắp và bạn tha thiết muốn được nói trôi chảy. Bạn có cảm giác tật nói lắp đang điều khiển cuộc đời bạn và bạn muốn tìm cách nào đó để chữa trị nó. Có lẽ bạn đã tham khảo nhiều biện pháp nhưng không có phương pháp nào thật sự có hiệu quả.

Quyển sách này sẽ giúp bạn dần nói trôi chảy và cuối cùng sẽ hoàn toàn loại trừ tật nói lắp ra khỏi cuộc đời bạn. Tiến trình này sẽ mất nhiều thời gian; có thể là vài tháng và có thể hơn một năm. Có lẽ bạn từng mơ một liệu pháp giúp bạn khắc phục tật nói lắp chỉ trong vòng vài ngày và có thể bạn sẽ thất vọng khi biết cần một khoảng thời gian dài mới làm được việc đó. Bạn phải hiểu rằng bạn đã nói lắp nhiều năm hay nhiều thập kỷ rồi. Nói lắp là một thói quen đã ăn sâu vào bạn và để thay đổi được thói quen ấy thì tất yếu phải cần thời gian.

Phần đầu tiên của quyển sách sẽ cho bạn sự mô tả lý thuyết về tật nói lắp. Phần này sẽ cung cấp cho bạn những hiểu biết cơ bản bạn cần có để chữa tật nói lắp. Bạn sẽ nhận ra rằng nói lắp là một hiện tượng phức tạp không chỉ liên quan đến lời nói của bạn. Hiện tượng nói lắp cũng bao hàm mọi hình thức cư xử và những hành xử này sẽ phải thay đổi nếu bạn muốn khắc phục dần tật nói lắp.

Phần thứ hai của quyển sách này gồm 30 bài luyện tập với mục tiêu là khắc phục tật nói lắp của bạn. Những bài tập này được chia làm hai phần. Loạt bài tập thứ nhất trực tiếp đề cập đến tiến trình nói còn loạt bài tập thứ hai đề cập đến những cách cư xử khác liên quan đến việc nói lắp.

Có thể bạn sẽ nói trôi chảy trước khi bạn thực hành hết các bài tập này. Tuy nhiên, nếu điều này xảy ra, tôi khuyên bạn cứ tiếp tục thực hiện các bài tập còn lại. Thành công trong việc nói trôi chảy là nhiệm vụ dễ gây nản nhưng duy trì được sự trôi chảy cũng không phải là điều dễ dàng. Những bài tập trong sách này không chỉ giúp bạn nói trôi chảy thôi nhưng còn giúp bạn duy trì việc nói trôi chảy.

Nhưng cần thận trọng, nói lắp là một hiện tượng phức tạp và không có hai người nói lắp nào giống hệt nhau. Quyển sách này sẽ giúp ích rất nhiều cho hầu hết người bị nói lắp nhưng tôi không thể bảo đảm rằng nó sẽ có hiệu quả cho mọi người. Cũng có khả năng hiếm hoi là sau khi đọc sách và thực hành tất cả bài tập trong sách, bạn sẽ không thấy bất kì sự tiến bộ nào cả. Trong trường hợp đó, xin đừng bỏ cuộc. Bạn có thể tham vấn một chuyên viên y tế về giọng nói (speech pathology) hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ thêm từ mạng Internet. Có chí thì nên. Nếu bạn thật sự muốn khắc phục tật nói lắp, bạn sẽ tìm ra cách để đạt được mục đích đó. Nó có thể tốn thời gian nhưng với lòng kiên trì, chắc chắn bạn sẽ thành công, dù có hay không có sách này giúp đỡ.

Nếu con bạn nói lắp…

Nếu con bạn nói lắp, bạn nên đọc phần I (Mô Tả Lý Thuyết về Tật Nói Lắp). Những trang này sẽ giúp bạn hiểu hiện tượng nói lắp là gì và giúp bạn thấu hiểu cảm xúc cũng như nhận thức của một người nói lắp. Rồi từ đó bạn sẽ dễ dàng hiểu con bạn hơn và giúp cháu nói trôi chảy.

Phần II (Liệu Pháp Chữa Tật Nói Lắp Dành Cho Người Lớn Và Thanh Thiếu Niên) không dành cho trẻ em. Đây là phần chủ yếu dành cho thanh thiếu niên và người lớn. Những đứa trẻ lớn hơn cũng có thể được ích lợi từ những bài tập này dưới sự hướng dẫn của người lớn. Dầu con bạn trong độ tuổi nào, tôi cũng đề nghị bạn nên đọc phần II vì những thông tin trong những trang này sẽ giúp bạn hiểu biết tốt hơn về tật nói lắp.

Phần III (Liệu Pháp Chữa Tật Nói Lắp Dành Cho Trẻ Em) được viết đặc biệt cho bạn. Phần này cung cấp những thông tin có giá trị về trẻ em với tật nói lắp. Phần III cũng giải thích điều bạn có thể làm để giúp con bạn bỏ tật nói lắp và trở thành người nói trôi chảy.

Với nỗ lực của mình, tôi chúc bạn sẽ gặp may mắn. Nếu bạn có câu hỏi hay nhận xét nào thì xin đừng do dự liên hệ với tôi qua trang web http://www.stuttering.ch.

Thursday, November 27, 2008

Phần mềm tập nói FluencyCoach

Phần mềm FluencyCoach sử dụng kỹ thuật phản hồi thính giác để mô phỏng cuộc một cuộc nói chuyện. Kỹ thuật này đã dược biết đến rất lâu như là một cách xúc tiến mức độ trôi chảy ở những trường hợp khó khăn trong giao tiếp, đặc biệt là tật nói lắp. (tham khảo tại http://www.fluencycoach.com)

Tính hiệu quả của kỹ thuật DAF chủ yếu là việc nghe lại chính tiéng nói của mình sau một thời gian chờ, giống như là kỹ thật echo vậy. Mặt khác kỹ thuật FAF có thể chuyển đổi cao độ am thanh, hoặc cải thiện án tượng của giọng người đối thoại ( chính bạn :p). Cả hai kỹ thuật này, mỗi kỹ thuật giảm mức độ nói lắp lên đến 70%. Sự kết hợp giữa chúng có thể mang lại hiệu quả 80% cho tật nói lắp…

Phần giới thiệu, tác giả nói huyên thuyên, Nhiên dịch lại nhiều lắm các bạn đọc cũng mất thời gian. Tóm lại, bạn nên tải phần mềm này về máy và cài đặt. Sau đó bạn cần có một cái microphone để đọc hoặc nói và nghe âm thanh phản hồi lại. Mình có dịp nghe lại giọng nói của mình, và chỉnh sửa nếu cần thiết. Hoặc giả, sau một thời gian dài cảm nhận được sự mệt mỏi đó, tự bạn cũng hoàn thiện được thôi.

Chúc các bạn thành công.

phần mềm FluencyCoach

Trích từ http://tatnoilap.wordpress.com/category/5-ph%E1%BA%A7n-m%E1%BB%81m/
Girls Generation - Korean