Friday, May 7, 2010

Thủng Màng Nhĩ Và Viêm Tai Tái Diễn

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Thung_Mang_Nhi_Va_Viem_Tai_Tai_Dien_162366050.jpg&size=article_medium
Thủng màng nhĩ là hậu quả của tình trạng viêm nhiễm tại chỗ ở tai lâu ngày không được điều trị. Trong đó, bệnh lý viêm tai giữa là một trong những nguyên nhân phổ biến

Ngoài ra còn phải kể đến một số nguyên nhân khách quan cũng có thể gây thủng màng nhĩ như khi lấy dáy tai, nhiều người chọc tăm (quấn bông ra ngoài), tăm bông, dụng cụ cứng nhét vào sâu trong tai cũng có thể gây thủng màng nhĩ.

Nhiều người vẫn còn chủ quan với hiện tượng thủng màng nhĩ, vì thấy tai vẫn nghe tốt. Thực thế, trong thời gian bị thủng màng nhĩ, sức nghe có bị giảm nhưng không đáng ngại. Tuy nhiên, lúc này, sức nghe không hẳn là vấn đề chính, mà quan trọng, lỗ hổng từ màng nhĩ là nơi “hút” vi khuẩn nên tai rất dễ bị viêm nhiễm, chảy nước, chảy mủ nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ.

Đây cũng là nguyên nhân khiến những người đã bị thủng màng nhĩ thường xuyên bị viêm tai tái diễn, gây chảy nước, mủ hôi, ngứa rất khó chịu. Nhất là với những người không biết vệ sinh tai đúng cách, tần số viêm càng lặp lại liên tục.

Trường hợp của bà là một ví dụ về sự viêm nhiễm tái lại do thủng màng nhĩ. Những người bị viêm tai tái lại này, không chỉ khó chịu tại chỗ do chảy nước, mủ, ngứa… mà còn rất nguy hiểm. Vì thủng màng nhĩ, chảy mủ tại chỗ… không chỉ là biểu hiện riêng của bệnh viêm tai giữa, mà nó có thể là biểu hiện các bệnh lý khác ở tai. Tuy nhiên, vì chủ quan nên nhiều người không đi khám mà không biết đó có thể là bệnh lý gây nguy hiểm cho tính mạng.

Như bệnh lý viêm tai xương chũm, nhất là thể viêm tai xương chũm mãn tính có cholesteatoma thì sẽ rất nguy hiểm. Vì chất cholesteatoma có nguy cơ ăn mòn xương, phá huỷ tất cả các cấu trúc xương chũm, làm lộ màng não, từ đó có thể gây những biến chứng nội sọ như viêm màng não, áp - xe não, viêm tĩnh mạch bên, liệt dây thần kinh vận động cơ mặt làm méo mặt… là rất cao nếu không được điều trị bằng phẫu thuật. Nguyên nhân gây căn bệnh này, thường chủ yếu từ các bệnh lý như viêm tai xương chũm thông thường, viêm tai tiết dịch tạo thành viêm tai xẹp dính… khiến da của ống tai, biểu bì của ống tai chui vào trong và vùi kín trong tai, dần dần tạo thành chất cholesteatoma. Nếu thủng màng nhĩ để lâu ngày không điều trị, thường xuyên tái nhiễm rồi bỏ mặc cho tự khỏi, người bệnh rất có nguy cơ gặp các biến chứng nguy hiểm.

Vì vậy khi thủng màng nhĩ, điều quan trọng cần làm là giữ vệ sinh tai bị bệnh thật tốt, điều trị ổn định đợt viêm, điều trị các bệnh lý liên quan gây ra tình trạng viêm nhiễm ở tai, xong mới có thể tiến hành vá màng nhĩ.

Đối với trẻ em, đa số trường hợp thủng nhĩ do chấn thương lỗ nhỏ, mới thủng xong được điều trị ngay căn nguyên gây viêm, chảy nước thì đều có thể tự lành, bít lỗ hổng. Còn lỗ thủng càng lớn thì khả năng lành tự nhiên càng thấp. Nhưng quan trọng, để lành được lỗ thủng, thì luôn phải chăm sóc, bảo vệ để tai không bị viêm nhiễm tái phát nhiều lần. Còn nếu lỗ thủng lâu ngày, đã có “gờ”, “sẹo” quanh lỗ thủng không thể tự liền thì vẫn có thể tiến hành vá màng nhĩ.

Thursday, May 6, 2010

Viêm Tai Giữa

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Viem_Tai_Giua_627453086.jpg&size=article_medium
Viêm tai giữa (VTG) ở trẻ nhỏ được xếp vào nhóm bệnh viêm đường hô hấp trên. Đây là một trong những bệnh rất thường gặp ở bên trong tai trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi với nhiều hậu quả xấu

Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm hoặc để lại di chứng nặng nề, rất khó khắc phục, ảnh hưởng đến sức nghe của trẻ. Việc phát hiện sớm, điều trị kịp thời, đúng đắn, đóng vai trò quyết định trong tiên lượng bệnh, phòng ngừa biến chứng và các hậu quả lâu dài đối với trẻ.

Tai giữa

Cơ thể học của tai

Tai được chia làm 3 phần
: tai ngoài, tai giữa và tai trong

1. Tai ngoài: Gồm vành tai và ống tai ngoài.

2. Tai giữa: Gồm màng tai và một hốc xương gọi là hòm tai. Màng tai (còn gọi là màng nhĩ - tympanic membrane) là một màng mỏng hình bầu dục, lõm ở giữa, nằm hơi nghiêng ra sau, ngăn cách hoàn toàn ống tai ngoài và tai giữa, bịt lên hòm tai như màng trống bịt vào tang trống. Màng tai tuy có lớp xơ ở giữa tương đối chắc, nhưng lại rất dễ bị phá hủy gây thủng khi có viêm nhiễm hoặc ứ đọng dịch trong tai giữa. Màng tai cũng dễ bị rách thủng khi có các chấn thương cơ học (chọc, ngoáy vào tai), chấn thương áp lực (lặn sâu, bị tát vào tai, sức ép do bom đạn...) hoặc chấn thương âm.

Trong hòm tai có các xương con nối khớp với nhau rất tinh tế (xương búa (malleus), xương đe (incus), xương bàn đạp (stapedius)). Màng nhĩ và các xương con hợp thành hệ thống màng nhĩ - xương con có tác dụng khuyếch đại và dẫn truyền những rung động của sóng âm từ môi trường (ống tai ngoài) vào tai trong.

3. Tai trong: Chính là đầu mối thần kinh tiếp nhận các tín hiệu âm thanh truyền qua dây thần kinh thính giác (dây số VIII) lên não, và nhờ đó mà người ta nghe được. Tai trong nằm trong một hốc xương có hình xoắn 2 vòng rưỡi nên gọi là ốc tai.

Tai giữa đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ chế sinh lý nghe, nhất là hệ thống màng nhĩ - xương con. Bất kỳ một trục trặc nào trong hệ thống này (thủng màng nhĩ, cứng khớp giữa các xương con, tiêu hỏng 1 trong các xương con, ứ đọng dịch trong hòm tai...) đều gây nên gián đoạn sự dẫn truyền sóng âm vào tai trong và dẫn đến nghe kém hoặc điếc.

Viêm tai

Màng nhĩ của tai bị viêm giữa


Viêm tai giữa ở trẻ em thường là viêm cấp do nhiễm trùng hoặc ứ đọng dịch trong hòm tai mà thành. Do đặc điểm giải phẫu và sinh lý của trẻ em có nhiều điểm khác biệt với người lớn, nên trẻ em thường hay bị VTG cấp hơn:

- Trẻ em hay bị viêm mũi họng, vi khuẩn sẽ từ các ổ viêm này lan lên tai gây nên VTG.

- Ở trẻ em, vòi nhĩ (vòi Ơ-xtat (eustachian tube), nối hòm tai và họng mũi) ngắn hơn, khẩu kính lớn hơn ở người lớn nên vi trùng và các chất xuất tiết ở mũi họng rất dễ lan lên tai giữa, nhất là khi em bé nằm ngửa thì tai sẽ ở vị trí thấp hơn mũi họng, nếu em bé khóc, vòi nhĩ sẽ mở rộng thêm làm cho các chất xuất tiết ở mũi họng theo đó chảy vào hòm tai.

- Hệ thống niêm mạc đường hô hấp (niêm mạc mũi họng, niêm mạc hòm tai, niêm mạc khí phế quản...) ở trẻ em rất nhạy cảm, rất dễ phản ứng với những kích thích hóa, lý và cơ học bằng hiện tượng xuất tiết dịch, làm cho dịch ứ đọng nhiều trong hòm tai gây VTG.
Mức độ nguy hiểm của bệnh

VTG cấp ở trẻ nhỏ có thể gây thủng màng nhĩ, làm tiêu xương, gián đoạn chuỗi xương con... ảnh hưởng đến sức nghe của trẻ. Trẻ bị nghe kém, nhất là từ khi chưa phát triển lời nói, sẽ dẫn đến rối loạn ngôn ngữ (nói ngọng, nói không rõ âm, từ...) làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng giao tiếp xã hội sau này của trẻ

Nặng hơn nữa là những biến chứng nhiễm trùng, nhiều khi ảnh hưởng đến tính mạng: VTG cấp có thể dẫn đến những biến chứng sọ não cực kỳ nguy hiểm như viêm màng não, áp xe não do tai, viêm tắc tĩnh mạch bên, do viêm nhiễm lan từ trần hòm tai lên não hoặc gây liệt dây thần kinh mặt (dây số VII).

Phát hiện và điều trị

Cách phát hiện

VTG ở trẻ nhỏ thường biểu hiện bằng các triệu chứng sau:

- Trẻ sốt, thường là sốt cao 39-40oC, quấy khóc nhiều, bỏ bú, kém ăn, nôn trớ, co giật...

- Nếu là trẻ lớn, sẽ kêu đau tai, còn trẻ nhỏ chỉ biết lắc đầu, lấy tay dụi vào tai.

- Rối loạn tiêu hóa: trẻ đi ngoài lỏng, nhiều lần, xuất hiện gần như đồng thời với triệu chứng sốt.

Tóm lại tất cả các em bé bị sốt không rõ nguyên nhân, những trẻ nhỏ bị tiêu chảy và nôn... đều phải được khám kỹ càng về tai mũi họng để có thể phát hiện sớm được bệnh VTG cấp.

Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, vài ngày sau (2-3 ngày) bệnh sẽ tiến triển sang giai đoạn vỡ mủ do màng tai bị thủng, mủ tự chảy ra ngoài qua lỗ tai với các biểu hiện sau:

- Trẻ đỡ sốt, bớt quấy khóc, ăn được, ngủ được.

- Hết rối loạn tiêu hóa, đi ngoài trở lại bình thường.

- Không kêu đau tai nữa.

Các bà mẹ tưởng chừng như bệnh đã lui nhưng thực ra VTG đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn mạn tính, với 1 dấu hiệu rất quan trọng: chảy mủ tai.

Nếu vẫn không được điều trị bệnh sẽ diễn biến thành VTG mạn tính hoặc viêm tai - xương chũm mạn tính, dẫn đến rất nhiều hậu quả xấu sau này cho trẻ, cùng với nguy cơ biến chứng có thể xảy ra vào bất kỳ lúc nào.

Điều trị


Việc chẩn đoán và điều trị VTG ở trẻ nhỏ nhất thiết phải do các thầy thuốc chuyên khoa có kinh nghiệm tiến hành. Tùy theo từng giai đoạn của bệnh mà có cách điều trị khác nhau.

- Giai đoạn đầu, khi màng nhĩ chưa thủng, thường phải dùng kháng sinh, hạ sốt, giảm đau, chống viêm và giảm xung huyết màng nhĩ, sát trùng mũi họng. Ngoài ra nếu trẻ bị rối loạn tiêu hóa nặng thì cần được phối hợp điều trị bởi các thầy thuốc nhi khoa. Nếu khám thấy màng nhĩ viêm đỏ, phồng, chứng tỏ có nhiều dịch viêm ứ đọng ở hòm tai thì phải chích rạch màng nhĩ, chủ động tháo bỏ dịch mủ trong tai giữa ra ngoài, không nên để cho mủ tự vỡ, làm thủng màng nhĩ hoặc lan vào xương chũm. Nói chung, trong trường hợp nghi ngờ có mủ thì nên chích rạch màng nhĩ sớm, thà chích rạch sớm còn hơn là chích rạch quá muộn. Vết chích sẽ tự liền lại rất nhanh sau 1-2 ngày.

- Giai đoạn muộn, màng nhĩ đã thủng; ngoài các thuốc điều trị toàn thân, cần phải tiến hành làm thuốc tai hàng ngày tại các cơ sở tai mũi họng. Trẻ sau đó phải được theo dõi tình hình lỗ thủng màng nhĩ bởi các thầy thuốc chuyên khoa.

Wednesday, May 5, 2010

Nên Làm Gì Khi Bạn Bị Ù Tai?

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Lam_Gi_Khi_Ban_Bi_U_Tai_978464720.jpg&size=article_medium
Ù tai có thể do một số nguyên nhân không nguy hiểm như ống tai bị bít do ráy tai, nước... Song có một số vấn đề khác phức tạp hơn như nhiễm trùng, xơ cứng chuỗi xương con trong tai. Tại sao bạn lại bị ù tai?

Ù tai có thể do các nguyên nhân bệnh lý như hạ huyết áp, tăng huyết áp, tiểu đường, stress nặng...

Ù tai nhiều khi gây ra do tăng hoặc hạ huyết áp.

Do đó, bạn cần phải tìm hiểu rõ nguyên nhân gây ù tai, cần khám thần kinh và tai mũi họng, thậm chí phải thực hiện nhiều xét nghiệm để xác định bệnh.

Xử trí khi bị ù tai

Khi bị ù tai, bạn có thể giảm ù tai bằng các cách sau:

- Tránh nghe tiếng động quá lớn.

- Nếu có cao huyết áp cần điều trị ổn định huyết áp.

- Nên ăn nhạt.

- Tránh dùng các chất kích thích thần kinh như cà phê, thuốc lá...

Không nên dùng các chất kích thích khi bạn bị ù tai.

- Tập thể dục thường xuyên.

- Tránh làm việc quá mệt mỏi, nghỉ ngơi điều độ.

- Đừng lo lắng nhiều về tiếng ù trong tai vì nó không quá nguy hiểm như bạn nghĩ.

Tuesday, May 4, 2010

Nấm Ống Tai

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Nam_Ong_Tai_443080056.jpg&size=article_medium
Điều kiện khí hậu ẩm thấp như ở Việt Nam dễ tạo điều kiện cho các loại nấm gây bệnh phát triển. Nấm ống tai ngoài là một bệnh tương đối phổ biến ở nước ta. Đặc biệt, ống tai ngoài của trẻ em có nhiều điều kiện thuận lợi cho các loại nấm phát triển.

Nấm ống tai chiếm 10% trong số những bệnh nhân viêm ống tai. Bệnh hay gặp do những loại nấm cơ hội gây ra như: Aspergillus niger, candida, mucoracae, dermatophytes, và actinomyces. Nguyên nhân hay gặp nhất là các dụng cụ để ngoáy tai, lấy ráy tai ở các hiệu cắt tóc không sạch, bị nhiễm các loại sinh vật này ..., suy giảm miễn dịch, các nhiễm trùng tại chỗ khác kết hợp, chàm ống tai, dùng kháng sinh nhỏ tai kéo dài.

Triệu chứng

Biểu hiện đầu tiên của bệnh nấm ống tai ngoài là ngứa trong ống tai, ngứa tăng dần làm bệnh nhân phải ngoáy tai liên tục. Rất ít bệnh nhân đến khám và chữa ở giai đoạn này.

Khi nhiễm trùng nặng, bệnh nhân bắt đầu thấy đau tai, đau tăng lên khi nhai hoặc ngáp. Tai bệnh nhân lúc này thấy nặng, cảm giác đầy tức trong tai đồng thời nghe kém hơn hẳn tai bên lành hoặc nếu bị cả hai tai thì sức nghe giảm sút hẳn, đồng thời có dịch chảy ra ngoài cửa tai màu trắng, vàng, hoặc nâu bẩn. Giai đoạn này bệnh nhân không thể chịu được nữa mới chịu đến gặp thầy thuốc tai - mũi - họng.

Khi khám tai, ống tai ngoài bị bệnh được lấp đầy bởi những mảng màu xám, đen hoặc trắng, phía trên những mảng này, các sợi bào tử nấm mọc trông như một khu rừng, đặc biệt nếu được soi và phóng đại trên màn hình. Các mảng này có mùi hôi rất khó chịu. Lấy những đám tổ chức bệnh lý này đem đi soi tươi và nuôi cấy để có được chẩn đoán xác định đúng loại nấm gây bệnh.

Điều trị

Khi bị nấm ống tai ngoài, cần làm sạch ống tai bằng dung dịch acid acetic 2%, có thể kết hợp với muối nhôm hoặc muối cacbonat canxi (dung dịch Burow). Sau đó sử dụng thuốc chống nấm tại chỗ như m-cresyl-acetat, aluminum acetat (dung dịch Burow), tolnaftat, clotrimazole, nystatin và một số dung dịch vệ sinh tại chỗ.

Phòng tránh

Chỉ nên làm vệ sinh tai khi cần thiết với những dụng cụ sạch.

Tuyệt đối không ngoáy tai bằng những dụng cụ không đảm bảo vệ sinh; không để thợ cắt tóc lấy ráy tai hoặc làm vệ sinh tai. Mọi người quan điểm ráy tai là bẩn nên cố lấy cho bằng hết mà không biết rằng ráy tai cũng đóng vai trò đáng kể trong việc bảo vệ thành ống tai, trừ trường hợp ráy quá nhiều ảnh hưởng đến sức nghe.

Nên đến thầy thuốc tai - mũi - họng để kiểm tra và lấy ráy tai. Khi tai đã bắt đầu ngứa tức là đã có biểu hiện của viêm ống tai, lúc này bạn nên nhờ sự giúp đỡ của thầy thuốc.

Monday, May 3, 2010

Điều Trị Bệnh Viêm Tai Ngoài Ác Tính

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Dieu_Tri_Benh_Viem_Tai_Ngoai_Ac_Tinh_592304733.jpg&size=article_medium
Viêm tai ngoài ác tính có thể là do nhiễm trùng, bệnh da , nấm (Aspergillosis), sự kích thích thường xuyên ( ngoáy tai), dị ứng, chảy mủ mạn từ tai giữa, u (hiếm), hay có thể đơn thuần sau một thói quen tâm thần là thường xuyên cào gãi tai. Viêm tai ngoài ác tính là gì ?

Viêm tai ngoài ác tính có thể là do nhiễm trùng, bệnh da (chàm hay tăng tiết bã nhờn ), nấm (Aspergillosis), sự kích thích thường xuyên ( ngoáy tai), dị ứng, chảy mủ mạn từ tai giữa, u (hiếm), hay có thể đơn thuần sau một thói quen tâm thần là thường xuyên cào gãi tai. Một bệnh nhân đã hay đang bị chàm ở ống tai, sau đó có chảy dịch đen, điều này gợi ý nhiễm nấm kèm theo.

Những phương pháp chuẩn trong điều trị và dự phòng thường điều trị tất cả viêm tai ngoài cấp và viêm tai ngoài ác tính. Tuy nhiên, ở những người bệnh đái tháo đường hay suy giảm miễn dịch, viêm tai ngoài mạn có thể rất nặng (viêm tai ngoài ác tính). Viêm tai ngoài ác tính là sự nhầm lẫn bởi vì đây không phải là bệnh do khối u ác tính mà do sự nhiễm khuẩn lan vào nền sọ.

Điều trị viêm tai ngoài ác tính như thế nào ?

Không đề cập đến nguyên nhân, thì hai yếu tố ẩm ướt và kích thích luôn tồn tại mọi loại viêm tai ngoài. Từ nguyên nhân này, nên giữ tai luôn khô ráo, trong khi tắm hay bơi dùng một nút bấc (được thiết kế đặc biệt ngăn nước vào tai ), hay dùng miếng vải cotton thấm vaselin chặn bên ngoài.

Nên tránh cào gãi hay ngoáy tai bằng que bên trong ống tai. Thói quen này làm tăng sự kích thích da, và tệ nhất là làm nặng thêm bệnh. Thực tế, gãi bên trong tai không làm tai bớt ngứa hơn, và vài loại thuốc không có hiệu quả lắm. Núm tai nghe (máy trợ thính hay ống nghe của bác sĩ) không nên đeo cho đến khi tai hết sưng và chảy mủ.

Điều trị chung nhất gồm thuốc kháng sinh nhỏ tai (Cortisporin, Volsol, Cipro) có hay không có kèm kháng sinh uống. Những loại thuốc này nên dùng trực tiếp.

Trong một vài trường hợp, một miếng bấc được đặt vào trong ống tai để giữ tai luôn mở và giữ kháng sinh duy trì trong ống tai lâu hơn. Một cách định kì hay thường xuyên hút dịch giúp ống tai luôn thoáng, lấy những mô chết, và làm giảm số lượng vi khuẩn.

Có thể dự phòng viêm tai ngoài ác tính như thế nào ?

- Giảm tiếp xúc với nước. Nếu bạn dễ bị nhiễm trùng thì có lời khuyên bạn nên sử dụng bấc tai khi tắm hay bơi. Nhỏ cồn ( dung dịch thường dùng sau khi bơi ) sau khi tiếp xúc với nước hoặc làm khô tai với máy sấy tóc đặt các tai khoảng một cánh tay giúp tai luôn khô ráo.

- Đừng đưa bất cứ dụng cụ nào vào tai hay ngoáy tai hay gãi tai.

- Giữ tai luôn không có ráy tai. Điều này đòi hỏi bạn đến bác sĩ đều đặn để làm sạch tai, hay bạn có thể chịu đựng thì dùng những dụng cụ có kích thước phù hợp để lấy ráy tai.

Nếu bạn đã bị nhiễm trùng tai, hay nếu bạn bị thủng màng nhĩ hay nếu bạn đã từng phẫu thuật tai và có đặt ống trong tai, bạn nên tham vấn bác sĩ trước khi bơi hay trước khi dùng bất cứ loại thuốc nhỏ nào.

- Có thể dự phòng bằng dung dịch rẻ tiền và dễ làm là trộn cồn và giấm trắng với tỉ lệ bằng nhau (50:50). Dung dịch này làm tăng sự bốc hơi của nước trong ống tai và có tính chất kháng khuẩn.

- Nhỏ dầu khoáng có thể giúp bảo vệ tai khỏi nước khi da bị khô dầy sừng.

Sunday, May 2, 2010

Nhận Biết Viêm Amidan Ở Trẻ Em

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Nhan_Biet_Viem_Amidan_O_Tre_Em_681583734.jpg&size=article_medium
Amidan là một hệ thống tổ chức limphô nằm trong họng, có vai trò trong hệ thống miễn dịch của cơ thể để chống lại bệnh tật trong những năm đầu đời.

Tuy nhiên, khi trẻ lớn dần, tổ chức này rất hay bị viêm hoặc quá phát gây hội chứng amidan quá to làm trẻ hô hấp khó khăn, thậm chí có thể gây hội chứng ngừng thở khi ngủ.
Bệnh hay gặp ở trẻ em

Viêm amidan là bệnh hay gặp ở trẻ em ở độ tuổi đi học. Amidan được coi là ổ viêm, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe trẻ em, nhất là gây ra các bệnh về đường hô hấp và có tác giả còn coi amidan là nguyên nhân hay gây ra các rối loạn toàn thân khác nhau cho trẻ em như: biếng ăn, chậm phát triển trí tuệ, đái dầm…Vì vậy, trong đa số trường hợp khi bị viêm amidan nhiều lần, người ta khuyên nên phẫu thuật cắt bỏ tổ chức này.

Cần nhớ rằng, amidan là tên gọi chung cho một số tổ chức nằm ở vị trí ngã ba giữa đường thở và đường ăn ở phía cuối vòm họng. Loại amidan thường hay gây viêm là amidan khẩu cái.

Amidan khẩu cái là nơi tích tụ tổ chức limphô lớn nhất nằm ở hai mặt bên của họng và có thể nhìn thấy khi há to miệng. Một hệ thống amidan thứ hai được gọi là amidan lưỡi nằm ở phía trong cùng (đáy) của lưỡi. Hệ thống amidan thứ ba là amidan họng, khi bị viêm thường gọi là viêm V.A (viết tắt của chữ tiếng Pháp Végetation adénoide). V.A nằm ở phía thành sau, trên cao nhất của họng. Cùng với amidan lưỡi, VA, amidan vòi, amidan khẩu cái tạo thành vòng có tên gọi là vòng Waldeyer có cùng nguồn gốc và cùng chức năng.

Amidan và VA nằm ở ngã ba đường ăn và đường thở, là nơi tiếp xúc đầu tiên với các loại vi khuẩn và các chất kháng nguyên có mặt trong thức ăn và không khí khi hít vào, do đó nó rất dễ bị nhiễm nhiều loại vi khuẩn. Khi đứa trẻ mới sinh ra, amidan có kích thước rất nhỏ. Từ 1 - 6 tuổi amidan to dần do kết quả của sự hoạt động miễn dịch.

Bình thường luôn tồn tại sự cân bằng giữa hệ vi khuẩn của tổ chức amidan và sự đáp ứng miễn dịch tại chỗ của chúng. Khi sự cân bằng này bị phá vỡ bởi nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virus dẫn đến quá phát tổ chức limphô và ứ đọng những mảnh hoại tử, lúc đó sẽ dẫn đến viêm amidan mạn tính và phì đại do tăng số lượng các nang limphô.

Các dấu hiệu của viêm amidan


Các dấu hiệu về amidan quá phát có thể nhận biết từ rất sớm do ảnh hưởng đến chức năng thở của trẻ. Nếu thấy trẻ có ngủ ngáy cần cho trẻ đi khám amidan, vì nếu để kéo dài sẽ có nguy cơ bị các cơn ngừng thở khi ngủ. Cần phải đặc biệt lưu ý nếu trẻ ngủ ngáy to, thở bằng mồm mãn tính, hay thức giấc trong đêm, mệt mỏi, đái dầm, học lực kém...

Amidan quá phát cũng gây ảnh hưởng đến quá trình hình thành giọng nói hoặc cách phát âm của trẻ. Nếu trẻ phát âm như giọng mũi hoặc khó khăn khi phát âm cần phải khám amidan ngay. Amidan quá to có thể làm trẻ nuốt vướng, khó ăn, ăn uống chậm chạp hàng giờ mới xong bữa cơm. Thậm chí viêm amidan cũng gây ảnh hưởng đến chức năng nghe của tai dẫn đến bị điếc. Trẻ bị quá phát amidan thường có hơi thở hôi, ho về đêm, ho khan kéo dài.

Trẻ luôn có cảm giác khó chịu, rát họng hoặc cảm giác vướng mắc như có dị vật ở họng hoặc nhói đau khi nuốt. Trẻ thường tái diễn các đợt viêm nhiễm cấp amidan nhiều lần trong năm. Khi đó cần đưa trẻ đến các bệnh viện để khám thực thể và làm các xét nghiệm cần thiết.

Các thầy thuốc sẽ có chỉ định cần thiết để điều trị hoặc phẫu thuật cắt bỏ amidan, nạo VA cho trẻ. Phẫu thuật cắt amidan phải được tiến hành ở các cơ sở y tế có thẩm quyền chuyên môn và đầy đủ phương tiện cấp cứu, vì dễ gây nguy hiểm cho bệnh nhân như: chảy máu, nhiễm trùng…

Saturday, May 1, 2010

Nên Làm Gì Khi Trẻ Bị Viêm Xoang?

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Nen_Lam_Gi_Khi_Tre_Bi_Viem_Xoang_623427508.jpg&size=article_medium
Xoang là một hệ thống rỗng ở người lớn, bao gồm các xoang hàm, xoang trán, xoang sàng và xoang bướm. Ở trẻ khi mới sinh ra thì đã có sẵn xoang hàm (nằm phía sau má) và xoang sàng (nằm giữa 2 hố mắt). Càng lớn lên, các xoang khác cũng phát triển dần.

Trẻ em cũng có thể bị viêm xoang (VX) do hiện tượng viêm nhiễm vi sinh vật (vi khuẩn, virus) ngược dòng từ họng, mũi, phế quản... đi lên. Triệu chứng của VX ở trẻ em khó chẩn đoán hơn rất nhiều so với VX ở người lớn.

Vậy chúng ta cần làm gì khi trẻ bị VX?

Một số triệu chứng nghi ngờ trẻ VX

Đối với bệnh VX cấp tính


Trẻ sốt nhẹ, chảy mũi, đặc biệt lưu ý ở những trẻ có tiền sử chẩn đoán V.A (végetation adenoide), viêm đường hô hấp trên (viêm họng, mũi…) kéo dài từ một đến vài tuần. Ho, hắt hơi, đôi khi buồn nôn hoặc nôn.

Trẻ lớn có thể có đau đầu (trẻ cảm nhận được) nhưng trẻ bé hơn ít khi thấy trẻ kêu đau đầu (do trẻ chưa cảm nhận được) mà thường biểu hiện quấy khóc nhiều và ít chịu chơi, trông có vẻ mệt mỏi, thường thường trẻ chán ăn và khó ngủ.
Khám họng cho trẻ.

Đối với bệnh VX mạn tính

Các triệu chứng ho, sốt nhẹ, chảy mũi nước, đau đầu và nghẹt mũi kéo dài hơn 2 tuần chưa được khám bệnh hoặc điều trị chưa dứt điểm. Bệnh tái phát nhiều lần trong một năm.

Khi nghi trẻ bị VX nên làm gì?


Khi nghi trẻ bị VX hay nói đúng hơn là thấy cháu nghi mắc bệnh về tai, mũi, họng cần đưa cháu đến khám bác sĩ, tốt nhất là các bác sĩ chuyên khoa tai, mũi, họng để được khám lâm sàng và làm một số xét nghiệm cần thiết. Đầu tiên, thầy thuốc bao giờ cũng hỏi bệnh, vì người bệnh là trẻ em nên người đưa cháu đi khám bệnh phải hiểu rõ về các biểu hiện bệnh của trẻ như thế nào? Xảy ra từ bao giờ? Đã khám ở đâu? Và điều trị những loại thuốc gì? (thầy thuốc sẽ xem sổ y bạ của cháu). Hỏi bệnh của thầy thuốc giúp một phần đáng kể trong việc chẩn đoán đúng bệnh, vì vậy, người bệnh hoặc người nhà của người bệnh cần trả lời đúng với thực tế về tình trạng của cháu và những vấn đề mà thầy thuốc muốn biết cụ thể.

Ngoài các động tác soi đèn để khám tai, mũi, họng, ấn một số điểm trên mặt người bệnh để xác định điểm đau, sưng tấy... thì khi cần thiết, bác sĩ có thể nội soi bằng dụng cụ chuyên khoa đặc biệt để nhìn được vào trong hốc mũi, các hốc rỗng của xoang, bác sĩ cũng có thể chỉ định làm một số xét nghiệm như cấy mủ, chất nhầy của xoang để tìm vi khuẩn. Hoặc người ta có thể chụp cắt lớp vi tính để nắm rõ về tình trạng các xoang của trẻ và các vị trí tổn thương cụ thể của xoang. Đây là phương pháp có độ chính xác cao hơn phương pháp chụp X-quang thông thường. Tuy nhiên, không phải bất kỳ cháu nào nghi VX cũng chụp cắt lớp vi tính. Đa số các trường hợp được chỉ định chụp X-quang thông thường cũng giúp cho thầy thuốc có thêm thông tin cần thiết để chẩn đoán bệnh.

Vi khuẩn nào hay gây VX ở trẻ em?

Nói đến VX thì có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó căn nguyên VX do vi khuẩn đóng một vai trò đáng kể. Hệ vi khuẩn thuộc đường hô hấp trên và hô hấp dưới rất phong phú, đa dạng. Những vi khuẩn này bình thường không gây bệnh nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi như: sức đề kháng của trẻ bị suy giảm hoặc đang mắc một bệnh nhiễm trùng nào đó (cúm, sởi, viêm mũi...), trẻ còi xương, suy dinh dưỡng... thì các vi khuẩn này trở nên hoạt động, gây bệnh. Một số vi khuẩn như haemophilus influenzae, streptococcus pneumoniae, tụ cầu (tụ cầu vàng, tụ cầu da, tụ cầu hoại sinh), liên cầu, não mô cầu, trực khuẩn mủ xanh, E.coli... là những vi khuẩn hay gặp nhất trong VX nói chung và VX ở trẻ em nói riêng.

VX ở trẻ em có gây biến chứng không?

VX ở trẻ em nếu không được điều trị đúng có thể gây nên một số biến chứng, có loại biến chứng rất nguy hiểm. Một loại biến chứng hay gặp là đau nhức đầu và những khó chịu khác như luôn có cảm giác chất nhầy chảy ra phía sau thành họng (đối với các trẻ đã lớn luôn cảm nhận được).

Một số biến chứng nguy hiểm tuy ít gặp như: viêm mắt làm cho trẻ sụp mi, giảm cảm giác giác mạc tạo nên hội chứng đỉnh ở mắt gây đau dữ dội. Cũng có trường hợp tạo thành huyết khối trong các xoang hang nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây mù mắt. Tỷ lệ biến chứng viêm màng não, áp-xe não, viêm xương tuy rất thấp nhưng cũng cần được quan tâm đúng mức.

Nên làm gì để đề phòng bệnh VX ở trẻ em?

VX ở trẻ thường do vi khuẩn gây bệnh cơ hội sau khi hoặc trẻ đang mắc một bệnh khác, vì vậy, để hạn chế trẻ mắc bệnh VX nên quan tâm một số vấn đề sau đây:

Vệ sinh răng miệng hàng ngày cho trẻ. Đây là một việc làm thường xuyên của các bà mẹ, các cô nuôi dạy trẻ, bảo mẫu. Việc làm này tuy đơn giản nhưng rất có ích trong việc ngăn ngừa các bệnh về đường hô hấp và bệnh về tai, mũi, họng.

Khi nghi trẻ mắc bệnh về tai, mũi, họng nên cho trẻ đi khám bệnh càng sớm càng tốt, để được điều trị dứt điểm không để trẻ mắc bệnh kéo dài, tái đi tái lại nhiều lần như: bệnh VA, viêm amiđan, viêm mũi, họng... Khi được chỉ định điều trị bằng kháng sinh cần dùng đủ ngày và đúng liều.
Girls Generation - Korean