Saturday, March 7, 2009

Thắt Trĩ Bằng Dây Thun

A- Tổng Quan về Điều Trị

Nguyên lý thắt trĩ bằng dây thun đã có từ thời cổ đại. Vào năm 460 trước Công nguyên, Hippocrates đã mô tả phương pháp thắt một sợi chỉ chung quanh búi trĩ để làm nó teo lại.

Vào thế kỷ thứ 19, thủ thuật thắt trĩ bằng dây thun được dùng thường xuyên hơn. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, kỹ thuật này bao gồm cột cả búi trĩ lần phần mô nhạy cảm chung quanh nên gây đau đớn nhiều, và nhanh chóng bị loại bỏ.



Vào năm 1958, Blaisdell gợi ý chỉ nên thắt mô trĩ thôi và thủ thuật trở nên ít đau hơn nhiều. Kỹ thuật thắt trĩ hiện đại được tiên phong bởi Barron vào năm 1963 khi ông sử dụng một dụng cụ đặc biệt để thắt búi trĩ với độ chính xác cao. Để vinh danh ông, kỹ thuật này được gọi là phương pháp thắt trĩ Barron và dụng cụ thắt dược gọi là dụng cụ Barron.

Thắt trĩ bằng dây thun là thủ thuật thắt đáy búi trĩ bằng một sợi dây thun, ngăn chặn hoàn toàn dòng máu đến búi trĩ. Để thực hiện thủ thuật này, thầy thuốc sẽ đút một ống nội soi (anoscope hoặc proctoscope) được làm ấm và bôi trơn vào hậu môn của bệnh nhân. Búi trĩ sẽ được giữ chặt bằng kẹp, một dụng cụ sẽ siết dây thun vào đáy của búi trĩ. Trĩ sẽ teo lại, hoại tử, và rụng trong vòng một tuần.

Sẹo hình thành ở vị trí búi trĩ, giữ cho các tĩnh mạch kề cận không phình vào ống hậu môn. Thầy thuốc sẽ hỏi bệnh nhân xem có cảm thấy vòng cao su quá chặt? Nếu đau nhiều, bác sĩ sẽ tiêm thuốc gây tê tại vị trí đã thắt trĩ. Tuy nhiên, nếu đau nhói nhiều sau khi thắt trĩ, có thể đã thắt nhầm vào vùng mô dưới đường lược (dentate line) hoặc thắt quá nhiều phần mô và da nhạy cảm. Cần phải cắt bỏ dây thun và thắt lại.

Sau thủ thuật, bệnh nhân có thể cảm thấy đau và đầy ở vùng bụng dưới, hoặc có cảm giác mót đi tiêu.

Thường thì chỉ thắt mỗi lần từ 1 đến 2 búi trĩ. Nếu bệnh nhân được vô cảm toàn thân, có thể xử lý cùng một lúc nhiều búi trĩ hơn. Các búi còn lại sẽ được thắt sau thời gian từ 4 đến 6 tuần.

B- Tình hình sau khi thắt trĩ

Bệnh nhân đáp ứng không giống nhau sau khi thắt trĩ. Một số có thể trở về với công việc bình thường ngay (ngoại trừ việc mang vác nặng), số khác cần phải nghỉ tại giường t2 đến 3 ngày.

+ Bệnh nhân thường cảm thấy đau trong thời gian từ 24 đến 48 giờ sau thắt trĩ. Có thể dùng thuốc hoặc ngồi trong chậu nước ấm pha thuốc tím ngày 2-3 lần, mỗi lần 15 phút để giảm đau.

+ Để giảm nguy cơ chảy máu, nên tránh dùng các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), các thuốc aspirin, coumadin, warfarin v.v...trong thời gian từ 4 đến 5 ngày trước và sau khi thắt trĩ.

+ Có thể xuất huyết trong khoảng từ 7 đến 10 ngày sau khi thắt, lúc trĩ rụng. Xuất huyết thường nhẹ và tự cầm.

Bệnh nhân nên ăn nhiều chất xơ để làm mềm phân và uống thêm nước để dễ đi tiêu. Rặn nhiều khi đi tiêu có thể khiến trĩ tái phát.

C- Chỉ định thắt trĩ

- Thắt trĩ bằng dây thun là thủ thuật được dùng rộng rãi để điều trị trĩ nội. Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại sau 3 đến 4 lần thắt trĩ, cần đặt vấn đề điều trị phẫu thuật.

- Không được dùng phương pháp thắt trĩ nếu không đủ mô để kéo vào lòng dụng cụ thắt trĩ.

- Thủ thuật thắt trĩ không được áp dụng để điều trị trĩ độ 4.

Image










Dụng Cụ Thắt Trĩ

Image

Trĩ nội độ 1

Image

Trĩ nội độ 2

Image


Trị nội độ 3 và độ 4

Image

Thắt trĩ bằng dây thun

Image

Thắt trĩ bằng dây thun

Image

Thắt trĩ bằng dây thun

D- Kết Quả

Khoảng 80% bệnh nhân cho biết có cải thiện triệu chứng sau khi thắt trĩ.

+ Thắt trĩ bằng dây thun cải thiện triệu chứng nhanh chóng và kéo dài hơn so với phương pháp chích xơ (injection sclerotherapy) hoặc quang đông bằng tia hồng ngoại (infrared photocoagulation therapy).

+ Hiếm khi phải điều trị lại do triệu chứng tái phát.

+ Thủ thuật này hiệu quả nhất đối với các búi trĩ nội có kích thước từ nhỏ đến trung bình.

+ Thủ thuật này ít thành công khi thực hiện trên các búi trĩ lớn.

E- Nguy Cơ

Tác dụng phụ rất hiếm gặp, có thể bao gồm:

+ Đau nhiều không đáp ứng với các biện pháp giảm đau thường dùng sau khi thắt trĩ. Có thể do thắt búi trĩ quá sát với vùng chứa nhiều thụ thể cảm nhận đau trong ống hậu môn

+ Chảy máu hậu môn.

+ Bí tiểu.

+ Nhiễm trùng ở vùng hậu môn, vùng chậu, tuy hiếm gặp nhưng có thể diễn biến nhanh và nặng dẫn đến nhiễm trùng huyết. Cần khẩn trương điều trị bằng kháng sinh.

+ Tuột dây thun do kẹp được quá ít mô trĩ, cần phải thắt lại

+ Cục máu đông xảy ra ở 5% bệnh nhân, cần phẫu thuật cắt bỏ

+ Nứt hậu môn: xảy ra ở 1% trường hợp do nứt búi trĩ. Điều trị bằng kháng sinh, giảm đau hoặc phẫu thuật.

F- Kết Luận

- Thắt trĩ bằng dây thun là một trong những phương pháp điều trị ít tốn kém và hiệu quả nhất.

- Phẫu thuật cắt trĩ (hemorrhoidectomy) có thể đem lại kết quả tốt và lâu dài hơn thắt trĩ. Tuy nhiên, phẫu thuật thường tốn kém hơn, có thời gian phục hồi lâu hơn và nguy cơ biến chứng cũng cao hơn.

- Về lâu dài, thắt trĩ bằng dây thun được đánh giá là phương pháp điều trị không- phẫu thuật hiệu quả nhất đối với trĩ nội.

BS ĐỒNG NGỌC KHANH - BV Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

theo http://hoanmysaigon.com

Siêu âm động mạch cảnh phát hiện mảng xơ vữa

Siêu âm động mạch cảnh là kỹ thuật dùng sóng siêu âm để khảo sát cấu trúc bên trong của hai động mạch lớn ở vùng cổ của bạn. Hai động mạch này được gọi là động mạch cảnh có chức năng cung cấp máu cho não. Siêu âm động mạch cảnh nhằm tìm xem có mảng xơ vữa gây hẹp động mạch cảnh và túi phình. Mảng xơ vữa được cấu tạo bởi tế bào mỡ, cholesterol, can-xi và các thành phần khác của máu. Theo thời gian và tuổi tác, mảng xơ vữa tích tụ trong lòng mạch máu.


Image

Mảng xơ vữa tích tụ trong lòng mạch máu gây hẹp động mạch

dẫn đến nguy cơ tại biến mạch máu não

1. Khi nào và ai cần làm siêu âm động mạch cảnh?

Siêu âm động mạch cảnh để kiểm tra xem có hay không mảng xơ vữa trong lòng động mạch cảnh. Mảng xơ vữa có thể gây hẹp hay tắc nghẽn hoàn toàn động mạch. Bạn cần làm siêu âm động mạch cảnh khi:

- Bị tai biến mạch máu não hay tai biến mạch máu não thoáng qua

- Có âm thổi ở vùng động mạch cảnh. Bác sĩ của bạn có thể nghe âm thổi ở vùng cổ nơi có động mạch cảnh đi qua. Âm thổi này gợi ý động mạch cảnh bị tắc nghẽn bán phần, điều này có thể gây tai biến mạch máu não.

- Sau phẫu thuật đặt giá đỡ (stent) động mạch cảnh để kiểm tra vị trí của stent và sự thông suốt của động mạch cảnh.

- Xét nghiệm tầm soát ở bệnh nhân có nguy cơ cao bị tai biến mạch máu não như cao huyết áp, tiểu đường, những bệnh nhân này sẽ được kiểm tra động mạch cảnh định kỳ ngay cả khi không tìm thấy mảnh xơ vữa.

2. Cần chuẩn bị gì trước khi làm siêu âm?

Đây là xét nghiệm hoàn toàn không đau và không có chuẩn bị đặc biệt gì.

3. Siêu âm động mạch cảnh được thực hiện như thế nào?

Siêu âm động mạch cảnh thường được thực hiện trong bệnh viện bởi một bác sĩ chuyên khoa mạch máu hoặc chẩn đoán hình ảnh. Xét nghiệm này không đau và thời gian thực hiện thường không quá 30phút.

Bệnh nhân được yêu cầu nằm ngữa, đầu lần lượt nghiêng sang hai bên để khảo sát động mạch cảnh ở mỗi bên. Người bác sĩ sẽ bôi một lớp gel lên vùng cổ bệnh nhân. Chất gel này vô hại cho da và giúp sóng siêu âm được xuyên thấu tốt hơn. Một đầu dò phát sóng siêu âm sẽ được di chuyển dọc theo vùng cổ bệnh nhân. Các tín hiệu sóng siêu âm phản hồi sẽ được đầu dò ghi lại là tạo nên hình ảnh động về động mạch cảnh.

Image

4. Cần chú ý gì sau khi siêu âm động mạch cảnh?

Không có gì đặc biệt, bạn có thể trở lại làm việc bình thường ngay sau khi siêu âm.

5. Kết quả siêu âm động mạch cảnh cung cấp thông tin gì?

Siêu âm động mạch cảnh cho phép khảo sát động mạch cảnh của bạn cả về mặt hình thái và huyết động học. Siêu âm giúp phát hiện mảng xơ vữa động mạch, mô tả kích thước, vị trí, đánh giá mức độ gây hẹp động mạch cảnh và theo dõi diễn tiến theo thời gian.

Khi động mạch cảnh bị hẹp bởi mảng xơ vữa, điều này có nghĩa bạn có nguy cơ bị tai biến mạch máu não. Tuỳ theo mức độ mạch máu bị nghẽn, bác sĩ của bạn có thể lựa chọn điều trị bằng thuốc hoặc can thiệp phẩu thuật.

6. Siêu âm động mạch cảnh có nguy cơ gì?

Xét nghiệm này không xâm lấn và hoàn toàn không có nguy cơ gì. Kỹ thuật được dùng là sóng siêu âm hoàn toàn vô hại.

BS. NGUYỄN THẤP THẢO ANH
Khoa Chẩn đoán hình ảnh - BV Hoàn Mỹ Sài Gòn

theo http://hoanmysaigon.com

Cắt Polyp Ống Tiêu Hóa qua Nội Soi

Sơ nét về cắt polyp ống tiêu hóa qua nội soi

1. Tầm quan trọng của cắt polyp ống tiêu hoá qua nội soi

Khi phát hiện bị polyp dạ dày hoặc đại tràng qua nội soi, cần tiến hành cắt polyp để chắc chắn không bỏ sót tổn thương ác tính, do polyp đại tràng thường có nguy cơ cao ung thư hóa về sau.
Luồn một dây thòng lọng nhỏ qua ống nội soi và đặt dây dưới đáy của polyp.

Đáy polyp được đốt bằng dòng điện kiểm soát bằng vi tính (computer-controlled electrocautery) để đề phòng chảy máu, sau đó sẽ cắt rời cuống polyp bằng vòng dây.


Polyp đại tràng

Image

2 Polyp nhỏ ở đại tràng

Image

Hình ảnh một polyp lớn ở đại tràng

Image

Vòng dây thòng lọng (snare) dùng để cắt đốt polyp qua ngả nội soi

Image

Hình ảnh cắt đốt polyp đại tràng bằng vòng dây thòng lọng

Image

Hình ảnh một polyp trực tràng đang được cắt đốt bằng vòng dây thòng lọng (snare polypectomy). Polyp sau đó sẽ được gửi đi làm sinh thiết (giải phẫu bệnh). Cắt bỏ polyp lành tính để đề phòng ung thư đại tràng.

2. Ưu điểm của cắt Polyp Ống Tiêu Hóa qua Nội Soi

- Cắt polyp hoặc u qua ngã nội soi sẽ tránh được việc phải mổ hở. Đây là một trong những tiến bộ khoa học quan trọng nhất trong lĩnh vực khoa học tiêu hóa vì giúp điều trị nhiều khối u ở dạ dày và đại tràng mà không phải đối phó với những bất tiện của phẫu thuật lớn.

- Các bác sĩ tại Bệnh Viện Hoàn Mỹ Sài Gòn đã có khá nhiều kinh nghiệm trong việc chẩn đoán và điều trị bằng phương pháp này. Bệnh nhân có thể chỉ có một polyp nhỏ đơn độc, hoặc hàng trăm polyp trong bệnh đa polyps đại tràng gia đình.

- Trong một trường hợp, bác sĩ chuyên khoa đã cắt bỏ thành công khoảng 30-40 polyps chỉ trong một lần nội soi, và nhiều polyps khác trong những lần nội soi kế tiếp...

- Thủ thuật cắt polyp qua nội soi bao gồm việc đưa một sợi dây đặc biệt qua máy nội soi kết nối với dụng cụ phẫu thuật cắt đốt dạng thòng lọng để cắt và cầm máu trong lòng ruột.

- Polyp một khi phát hiện qua nội soi, sẽ được cắt đốt cầm máu bằng dụng cụ đặc biệt này. Thủ thuật thực hiện trên cơ sở ngoại trú, không đòi hỏi bệnh nhân phải nhập viện.

- Trong đa số trường hợp, hoạt động bình thường trong ngày hầu như sẽ được tái lập ngay sau khi cắt đốt polyp.

Image


Hình ảnh polyp đại tràng lớn nhất, kích thước 6 x 2,8 cm, được cắt nguyên vẹn thành một khối. Đa số các polyp lớn sẽ được cắt thành từng mảnh nhỏ

Chuỗi hình ảnh dưới đây mô tả tiến trình cắt đốt một polyp lớn ở đại tràng.

+ Bệnh nhân nữ, 72 tuổi, than phiền vì bị bệnh trĩ.

+ Quả thật bà có bệnh trĩ, tuy nhiên qua thăm khám trực tràng phát hiện thấy có thêm một khối u, sau này được chứng minh qua giải phẫu bệnh là một adenôm nhung mao (villous adenoma) với tế bào nghịch sản.

+ Tiến hành thủ thuật cắt đốt adenom qua nội soi:

Image
U được tròng thòng lọng.

Image


Dòng điện được tròng vào vòng dây


Image


U được tách rời để lại một sẹo loét sẽ tự lành về sau

Image

Vết loét sau khi cắt bỏ polyp lớn tiền ung thư.


Image

8 ngày sau thủ thuật: vết loét sau cắt polyp với các dấu hiệu đang lành. Mô hạt đang mọc. Các kết tụ fibrin sẽ được tổ chức hóa lại sau 2 tuần. Tổn thương sẽ hóa sẹo hoàn toàn cùng với thời gian.

Cần chú ý đến việc phát hiện và điều trị dứt điểm các tổn thương ở giai đoạn sớm. Chỉ bằng cách tiến hành nội soi định kỳ để phát hiện và điều trị cắt bỏ polyp mới giúp loại trừ được chứng bệnh ung thư đại tràng nguy hiểm.

Đừng bao giờ để cho ung thư tấn công chúng ta một cách bất ngờ.

Image

Hình ảnh một polyp đại tràng đã ung thư hóa

Hãy đi kiểm tra định kỳ để phát hiện sớm và cắt polyp đại tràng trước khi các triệu chứng báo động xuất hiện.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH - BV Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

theo http://hoanmysaigon.com

Đặt Stent Đường Mật

A- Định Nghĩa

Stent đường mật là một ống bằng nhựa tổng hợp hoặc kim loại được đưa vào trong lòng đường mật để làm giảm bớt sự chít hẹp.

Image

H1- Gan-Túi mật-Ống mật chủ-Tụy-Tá tràng-Dạ dày

Image

H2- Các dạng stent dùng cho ống mật chủ

B- Mục Đích

- Đặt stent đường mật là một kỹ thuật cao được sử dụng thường xuyên tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn để điều trị tắc nghẽn xảy ra trong các ống mật. Mật là một chất dịch do gan sản xuất giúp cơ thể tiêu hóa các chất béo. Mật được bài tiết qua các ống mật (mật quản), và dự trữ trong túi mật. Mật tiết vào ruột non sau bữa ăn có chất béo. Bài tiết mật được điều tiết bởi một cơ vòng (cơ thắt) có tên gọi cơ Oddi nằm ở vị trí tiếp giáp giữa ống mật chủ và ruột non (tá tràng).

Image

H3- Lưu thông của dịch mật (1)

Image

H4- Lưu thông của dịch mật (2)

- Nhiều tình trạng bệnh lý lành hoặc ác tính có thể gây tắc hẹp đường mật.

- Ung thư tụy là nguyên nhân ác tính thường gặp nhất, kế đến là ung thư túi mật, đường mật, gan và đại tràng.

Image

H5- Ung thư đầu tụy

Image

H6- U Klatskin ở rốn gan

Các nguyên nhân lành tính gây hẹp đường mật bao gồm:

  • Tổn thương đường mật trong phẫu thuật cắt bỏ túi mật (chiếm 80% các trường hợp chít hẹp không do nguyên nhân ung thư)
  • Viêm tụy
  • Viêm xơ đường mật nguyên phát (primary sclerosing cholangitis): tình trạng viêm đường mật gây đau, vàng da, ngứa và các triệu chứng khác
  • Sỏi túi mật
  • Sau xạ trị
  • Chấn thương bụng do vật tù

Image

H7- Sỏi gây tắc nghẽn ở kênh chung mật tụy

Image

H8- Sỏi túi mật- Sỏi cổ túi mật- Sỏi ống mật chủ

C- Tần Xuất

Tần xuất chung của hẹp đường mật hiện chưa biết rõ. Khoảng 0,2–0,5% trường hợp mổ cắt túi mật hoặc các phẫu thuật khác liên quan đến đường mật có thể gặp biến chứng chít hẹp đường mật về sau.

D- Mô tả

Stent (giá đỡ) đường mật là một ống nhỏ, mảnh dùng để nâng đỡ phần bị chít hẹp của đường mật. Stent được làm bằng nhựa tổng hợp hoặc kim loại. Hai phương pháp để đặt stent đường mật được sử dụng nhiều nhất là:

1- Chụp mật tụy ngược dòng qua nội soi (endoscopic retrograde cholangiopancreatography=ERCP)

2- Chụp đường mật xuyên gan qua da (percutaneous transhepatic cholangiography=PTC).

E- Chụp mật tụy ngược dòng qua nội soi (ERCP)

ERCP là kỹ thuật hình ảnh dùng trong chẩn đoán các bệnh lý ở tụy, gan, túi mật, và đường mật. ERCP còn có lợi thế của một công cụ điều trị. Ống nội soi được đưa qua miệng bệnh nhân xuống thực quản, qua dạ dày tá tràng, và đến chỗ mật đổ vào tá tràng. Ở vị trí này, một ống nhỏ (cannula) được luồn qua máy nội soi để bơm chất cản quang vào đường mật; từ ngược dòng có nghĩa là hướng đi của thuốc cản quang ngược với chiều lưu thông của dịch mật. Một loạt các hình Xquang sẽ được chụp khi chất cản quang di chuyển trong đường mật.

Image

H9- ERCP: Quan sát nhú Vater

Image

H10- Đầu ống nội soi ERCP: Camera, ánh sáng, catheter, dây dẫn

Image

H11- ERCP: Tiêm chất cản quang vào đường mật

Image

H12- ERCP: Hình ảnh đường mật bình thường

Nếu các phim Xquang cho thấy có hẹp ống mật chủ, stent sẽ được đặt vào ống mật để giải quyết sự tắc nghẽn. Để thực hiện được điều này, một số dụng cụ đặc biệt sẽ được luồn qua máy nội soi và tiến hành cắt cơ vòng (cắt cơ Oddi) để tiếp cận đường mật.

Image

H13- Bóng Vater (hướng 13h)

Image

H14- Cắt cơ Oddi để tiếp cận đường mật

Trong một số trường hợp, trước tiên là nong vị trí hẹp đường mật bằng một catheter mỏng và đàn hồi, tiếp theo là nong bằng bóng. Stent sau đó sẽ được đặt vào đường mật.

Image

H15- Sỏi trong ống mật chủ

Image

H16- Cắt cơ vòng Oddi để lấy sỏi

Image

H17- Sỏi được gắp ra rơi xuống ruột non và theo ống tiêu hóa ra ngoài

Image

H18- Đặt stent ống mật chủ giải áp trong một cas sỏi lớn ông mật chủ

Image

H19- ERCP phát hiện u đường mật (cholangiocarcinoma)

Image

H20- Vị trí tắc nghẽn trong ống mật chủ

Image

H21- Vị trí chít hẹp trong ống mật chủ

Image

H22- Đặt stent trong ống mật chủ và ống tụy

Image

H23- Stent đặt suốt chiều dài ống mật chủ

Image

H24- Đặt stent trong một cas u đầu tụy

Image

H25- Phim xả kiểm tra chức năng cơ vòng Oddi

Image

H26- Phim kiểm tra sau thủ thuật

F- Chụp đường mật xuyên gan qua da (percutaneous transhepatic cholangiography=PTC)

- PTC và ERCP giống nhau ở chỗ cùng được dùng để chẩn đoán và điều trị các tắc nghẽn lưu thông dòng mật từ gan xuống ruột.

- Biện pháp này thường chỉ dành cho những trường hợp thực hiện ERCP không thành công.

- Dùng một kim nhỏ chích thuốc cản quang qua da vào gan hoặc túi mật; chụp Xquang trong lúc chất cản quang di chuyển qua đường mật.

- Khi xuất hiện rõ chít hẹp đường mật, sẽ đặt một stent vào vị trí đó.

- Đặt một kim rỗng vào đường mật, sau đó luồn một dây hướng dẫn mỏng vào kim. Dây dẫn được hướng đến vị trí tắc nghẽn; stent được đẩy về phía trước theo dây dẫn và đặt vào vị trí tắc nghẽn trong đường mật.

Image

H27- Thực hiện PTC trên một cas tắc nghẽn đường mật do u Klatskin

Image

H28- Hình ảnh chụp đường mật bằng PTC: Dây dẫn (mũi tên đen) và các vị trí chít hẹp (mũi tên trắng)

Image

H29- Chụp PTC: Các vị trí tắc nghẽn trên đường mật (mũi tên trắng)

G- Chẩn Đoán/Chuẩn bị

- Bệnh nhân cần nhịn ăn uống ít nhất 6 giờ trước khi thực hiện ERCP hoặc PTC để bảo đảm dạ dày và tá tràng sạch không có thức ăn.

- Thầy thuốc phải được biết tất cả các loại thuốc mà người bệnh đang dùng.

- Bệnh nhân không được có tiền sử dị ứng với chất iode trong thuốc cản quang.

- Cần dùng kháng sinh trước khi thực hiện thủ thuật và tiếp tục thêm vài ngày sau đó.

H- Chăm sóc sau thủ thuật

- Sau thủ thuật, bệnh nhân cần được theo dõi sát để nhanh chóng phát hiện các biến chứng.

- Trong trường hợp ERCP, bệnh nhân thường được lưu lại bệnh viện cho đến khi tỉnh thuốc mê hoàn toàn, và không có biến chứng nào xảy ra.

- Sau khi thực hiện PTC, bệnh nhân cần được hướng dẫn nằm nghiêng về bên phải trong ít nhất 6 giờ để giảm nguy cơ chảy máu ở vị trí tiêm.

- Để bảo đảm là stent hoạt động tốt, bệnh nhân cần được tái khám thường xuyên để sớm phát hiện các triệu chứng chít hẹp đường mật tái phát.

- Các triệu chứng này bao gồm: thay đổi màu của phân và nước tiểu, vàng da, ngứa, và bất thường trong các xét nghiệm chức năng gan.

I- Nguy cơ

- Các biến chứng của ERCP bao gồm xuất huyết nặng, nhiễm trùng, viêm tụy, viêm đường mật, viêm túi mật, và tổn thương tá tràng.

- PTC có thể gây xuất huyết, nhiễm trùng tại vị trí tiêm chích, nhiễm trùng huyết, rò chất cản quang vào ổ bụng.

- Các biến chứng chuyên biệt của stent bao gồm: di chuyển khỏi vị trí đã đặt, tắc nghẽn và gây thủng ruột.

J- Kết quả tốt

Giảm tắc nghẽn và giúp mật lưu thông tốt hơn ở khoảng 90% bệnh nhân sau khi đặt stent đường mật.

K- Tỉ lệ tử vong và bệnh tật

- Tỉ lệ biến chứng nghiêm trọng đối với ERCP khoảng 11%, và 5–10% cho PTC.

- Tắc stent xảy ra ở 25% bệnh nhân, stent di chuyển ở 6% trường hợp.

- Tắc đường mật tái phát xảy ra ở 15–45% bệnh nhân sau thời gian trung bình từ 4 đến 9 năm.

L- Biện pháp thay thế

- Phẫu thuật là biện pháp thay thế chủ yếu cho đặt stent đường mật. Phương pháp thường dùng nhất là cắt bỏ chỗ chít hẹp và tạo một cầu nối giữa ống mật chủ và phần giữa của ruột non (nối ống mật chủ-hỗng tràng=choledochojejunostomy) hoặc giữa ống gan và ruột non (nối gan-hỗng tràng=hepaticojejunostomy).

- Điều trị ngoại khoa đạt hiệu quả tốt ở 85–98% bệnh nhân. Các biến chứng cũng ít xảy ra hơn.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH - BV Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Tham Khảo:

Feldman, Mark, et al. Sleisenger & Fordtran's Gastrointestinal and Liver Disease. 7th ed. Philadelphia: Elsevier Science, 2002.

Pande, Hemant, Parviz Nikoomanesh, and Lawrence Cheskin. "Bile Duct Strictures." eMedicine. June 3, 2002 [cited May 1, 2003].

Yakshe, Paul. "Biliary Disease." eMedicine. March 29, 2002 [cited April 7, 2003]

Tài liệu của:

American Gastroenterological Association. 7910 Woodmont Ave., 7th Floor, Bethesda, MD 20814. (301) 654–2055.

American Society for Gastrointestinal Endoscopy. 1520 Kensington Rd., Suite 202, Oak Brook, IL 60523. (630) 573–0600.

Society of Interventional Radiology. 10201 Lee Highway, Suite 500, Fairfax, VA 22030. (800) 488–7284.

theo http://hoanmysaigon.com
Girls Generation - Korean